dịch · Translated Books

[Trans] Demian – Chương VII (I)

VyQ19AR

Chương VII – Eva

Phần I.

Biên dịch: Gf93
Biên tập: An
Minh họa: High Blood


 

Trong kỳ nghỉ, có một lần tôi đến thăm lại ngôi nhà mà Demian đã sống cùng mẹ nhiều năm trước đó. Tôi nhìn thấy một người phụ nữ lớn tuổi đang tản bộ trong vườn, khi tôi hỏi thì mới biết đó là nhà của bà. Tôi hỏi thăm về gia đình Demian. Bà nhớ rất rõ về họ nhưng cũng không rõ giờ họ đang ở đâu. Cảm thấy tôi quan tâm đến chuyện này, bà đã mời tôi vào nhà, lấy ra một tập album bằng da và cho tôi xem ảnh của mẹ Demian. Tôi không nhớ rõ bà ấy trông như thế nào, nhưng giờ đây khi nhìn vào bức ảnh, tim tôi như chết lặng: đó chính là hình ảnh đã hiện ra trong giấc mơ của tôi! Là người ấy, người phụ nữ cao ráo, rắn rỏi, giống hệt con trai mình, mang theo những nét đặc trưng của người mẹ, nghiêm nghị, mà tình cảm. Là người ấy, đẹp đẽ và đầy cám dỗ, đẹp đẽ và khó gần, quỷ dữ và mẹ hiền, định mệnh và tình yêu. Không thể nhầm được!

Việc tìm ra được hình mẫu trong mơ của tôi tựa như phép màu. Hóa ra thực sự có một người phụ nữ trông như vậy, người giống hệt với hình mẫu định mệnh của tôi! Và người đó là mẹ của Demian. Vậy Người đang ở đâu?

Không lâu sau đó tôi cũng bắt đầu hành trình của mình. Một hành trình kỳ lạ! Tôi đi không ngừng nghỉ từ nơi này qua nơi khác, men theo mọi sự thôi thúc tôi tìm, liên tục tìm kiếm người phụ nữ ấy. Có những ngày, tất thảy người tôi gặp đều gợi tôi nhớ đến người phụ nữ ấy, phảng phất hình bóng Người, trông có nét gì giống Người, và tôi bị lôi đi qua những con phố của những thành phố xa lạ, qua những nhà ga xe lửa và trên những chuyến xe điện đón đưa, tựa hồ như trong một giấc mơ rối rắm. Có những ngày khác khi tôi nhận ra việc tìm kiếm này vô nghĩa biết bao nhiêu. Rồi tôi lại ngồi ngẩn ngơ trong công viên hay trong vườn hoa của một khách sạn nào đó, trong phòng chờ, cố gắng làm hình ảnh của Người sống lại trong tâm tưởng của mình. Nhưng nó đã sớm trở nên thật gượng gạo và khó nắm bắt. Tôi không ngủ được. Chỉ khi ngồi trên tàu tôi mới chợp mắt được một chút mà thôi. Có một lần ở Zurich, một người phụ nữ tiếp cận tôi, xinh đẹp mà tráo trở. Tôi không thèm để ý mà đi qua như thể cô ta không tồn tại. Tôi thà chết ngay tại chỗ còn hơn dành ra dù chỉ một giờ để chú ý đến một người phụ nữ khác.

Tôi cảm thấy số mệnh đang lê kéo tôi, tôi cảm nhận được khoảnh khắc tôi đạt tới vẹn toàn đang gần kề, và tôi nôn nóng đến phát ốm vì chẳng thể làm điều gì ra hồn. Có một lần ở ga tàu lửa, ở Innsbruck thì phải, tôi bắt gặp một người phụ nữ khiến tôi nhớ về Người, trên chuyến tàu vừa rời bánh. Tôi đã khốn khổ không biết bao nhiêu ngày, và bỗng nhiên hình bóng đó lại xuất hiện trong giấc mơ. Tôi bàng hoàng tỉnh giấc, hổ thẹn và thất vọng vì hành trình vô vọng này, và tôi bắt chuyến tàu tiếp theo để trở về nhà.

Một vài tuần sau đó tôi ghi danh vào vào đại học H, và tôi đã thất vọng. Những bài giảng về lịch sử triết học thật nhàm chán và rập khuôn như tất cả những hoạt động của hầu hết đám sinh viên vậy. Mọi thứ dường như đều đi theo lối mòn cũ rích, mọi người đều làm những việc giống nhau, và vẻ hoan hỉ quá đà trên những gương mặt nít ranh thì trống rỗng đến tuyệt vọng và trông thật rập khuôn. Nhưng ít nhất, thì tôi tự do, tôi có cả ngày cho bản thân mình, sống tĩnh lặng và yên bình trong một ngôi nhà cũ kỹ gần rìa thị trấn, và trên bàn có vài tập trong cuốn Nietzsche [47]. Tôi sống với anh ta, cảm nhận sự cô đơn trong linh hồn đó, giác ngộ số mệnh mà đã khiến anh ta trở nên kiên định, tôi chịu đựng tất thảy cùng anh, và mừng vui khi có một người quyết theo đuổi vận mệnh của chính mình không ngừng nghỉ.

Một tối muộn khi tôi thơ thẩn dạo quanh thị trấn, cơn gió thu thổi nhẹ vào tai tôi tiếng nô đùa huyên náo của đám sinh viên trong những quán rượu. Làn khói thuốc len qua khung cửa sổ với vô số bài hát, tiếng ồn, nhịp điệu tẻ nhạt cùng thứ đồng phục không sức sống.

Tôi đứng lại nơi góc phố và lắng nghe: Từ hai quán rượu, tiếng của những cuộc vui bài bản đến đại trà văng vẳng trong màn đêm. Những đám đông giả dối ở khắp nơi, tất thảy đều buông bỏ hết trách nhiệm của mình với số mệnh mà tìm đến hơi ấm bầy đàn.

Có hai người đi lướt qua sau tôi. Tôi trộm nghe được vài câu trong cuộc đối thoại của họ.

“Trông nó có khác nào nhà của đám thanh niên trong làng không” – một trong hai người cất tiếng – “Mọi thứ quá hợp với thứ trào lưu mới thịnh hành trở lại. Đấy nhìn xem, Hội thanh niên Châu Âu [49] đây chứ đâu.”

Giọng nói nghe thật xa lạ mà cũng thật quen thuộc. Tôi đi theo hai người đó qua con đường tối tăm. Một trong hai người là người Nhật, nhỏ bé và thanh lịch. Dưới ánh đèn đường, gương mặt vàng vọt của anh ta ánh lên nụ cười lấp lóa.

Người còn lại lại tiếp tục nói.

“Tôi nghĩ cùng lắm nó cũng chỉ tệ như cái đất nước của anh, Nhật Bản ấy. Hiếm có người nào lại không đi theo bầy đàn. Ở đây cũng có vài nhóm như thế đấy.”

Tôi cảm thấy một sự kết hợp giữa sự sợ hãi và niềm hân hoan trong từng câu chữ. Tôi biết người đang nói đó. Là Demian. Tôi đi theo anh ta và tên người Nhật qua những con phố có gió lùa, nghe họ nói chuyện và trở nên thích thú với chất giọng của Demian. Vẫn còn đó độ ngân quen thuộc, sự kiên định và bình tĩnh đẹp và xưa cũ vẫn luôn có sức ảnh hưởng vô hạn với tôi. Và giờ thì tốt rồi. Tôi đã tìm thấy anh ấy.

Nơi cuối con phố vùng ngoại ô, người đàn ông Nhật bản đó mở cửa và vào nhà. Demian quay bước đi về, còn tôi đã dừng lại ở giữa con phố đó đứng chờ anh. Anh càng đến gần, tôi lại càng xúc động, bộ dáng chính trực, bước chân dẻo dai trong chiếc áo mưa cao su màu nâu. Anh tiến lại gần mà không hề thay đổi nhịp chân cho đến khi cách tôi còn vài bước thì dừng lại. Rồi anh tháo mũ, để lộ ra gương mặt với làn da sáng sủa thân quen cùng khuôn miệng cương nghị và ánh sáng đặc biệt tỏa ra từ vầng trán.

“Demian,” tôi cất tiếng.

Anh duỗi thẳng tay.

“Vậy ra đúng là cậu, Sinclair! Tôi ngóng cậu mãi đó.”

“Anh biết tôi ở đây sao?”

“Tôi không biết chính xác nhưng chắc chắn là tôi muốn cậu ở đây. Cho đến tận tối nay tôi mới nhìn thấy cậu. Cậu đã theo chúng tôi một đoạn dài rồi.”

“Anh có nhận ra tôi ngay từ đầu không?”

“Tất nhiên rồi. Cậu có thay đổi đôi chút. Nhưng cậu vẫn có dấu hiệu nhận biết.”

“Dấu hiệu ư? Dấu hiệu kiểu gì?”

“Hồi trước chúng ta vẫn luôn gọi nó là dấu ấn của Cain – nếu cậu còn nhớ. Đó là dấu hiệu của chúng ta. Cậu luôn mang theo nó, đó cũng là lý do tôi và cậu trở thành bạn bè. Nhưng giờ nó còn rõ ràng hơn trước nữa.”

“Tôi không hề biết điều đó. Mà thực ra, phải, có lần tôi đã vẽ một bức chân dung anh đấy, Demian, và tôi đã ngạc nhiên vô cùng khi nó cũng giống cả tôi nữa. Đó có phải dấu hiệu không?”

“Chính nó đấy. Thật tốt vì cậu đã đến đây. Mẹ tôi nhất định cũng sẽ rất vui.”

Bỗng nhiên tôi cảm thấy sợ hãi.

“Mẹ anh? Người cũng ở đây sao? Nhưng bà đâu có biết tôi?”

“Biết chứ. Bà sẽ nhận ra cậu dù cho tôi không giới thiệu cậu là ai. Chúng tôi đã quá lâu không nhận được tin gì từ cậu.”

“Tôi vẫn thường muốn viết thư cho anh, nhưng điều đó thật vô nghĩa. Vì tôi biết sẽ sớm đến lúc tôi tìm được anh. Và hàng ngày tôi đều chờ đến thời khắc ấy.”

Anh ấy quàng lấy tay tôi và cùng đi tiếp. Khí chất bình tĩnh quanh anh cũng ảnh hưởng đến tôi. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã lại nói chuyện giống như những ngày xưa cũ. Suy tư tôi trôi ngược về khoảng thời gian chúng tôi còn đi học, lớp học Thêm sức và cả cuộc gặp mặt cuối cùng chẳng mấy vui vẻ trong kỳ nghỉ của tôi. Nhưng chỉ có mối liên kết sớm nhất và chặt chẽ nhất giữa chúng tôi, chuyện về Franz Kromer, là không bao giờ được nhắc đến.

Bỗng nhiên chúng tôi nhận ra mình đang ở giữa một cuộc nói chuyện kỳ lạ động đến những chủ đề mang điềm xấu. Tiếp tục sau khi Demian tạm biệt người bạn Nhật Bản kia, chúng tôi bàn luận về cuộc sống của phần lớn sinh viên, rồi đến vài chuyện khác nữa, những chuyện hoàn toàn chẳng liên quan. Nhưng trong từng lời của Demian vẫn có sự kết nối chặt chẽ đến hiển nhiên.

Anh nói về tinh thần của người Châu Âu và về những dấu hiệu của từng thời điểm. Ở mọi nơi, anh nói, chúng ta có thể nhìn thấy những vương triều của lối sống bản năng bầy đàn, chẳng có nơi nào có tự do và tình yêu cả. Tất cả những nhóm người này – từ những phường hội cho đến những cộng đồng hay thậm chỉ cả những quốc gia – đều không tránh khỏi sự phát triển thế này, đều là một tập thể sinh ra trong sợ hãi và khiếp đảm, không rối ren nhưng lại thối rữa từ bên trong và sớm muộn rồi cũng sụp đổ.

“Những nhóm người với tư tưởnh chân chính,” Demian nói, “là một điều đẹp đẽ. Nhưng những gì đang phát triển ở khắp nơi mà ta nhìn thấy lại không phải thứ đó. Linh hồn đích thực sẽ đến từ phần kiến thức của mỗi cá nhân riêng biệt, và sẽ đến lúc chúng sẽ biến đổi thế giới này. Tinh thần cộng đồng trong thời điểm hiện tại chỉ là biểu hiện của tính bầy đàn. Người ta sà vào vòng tay của nhau bởi vì họ sợ hãi lẫn nhau – những kẻ chủ nhân sống vì bản thân, những người làm thuê cũng sống vì bản thân, những học giả cũng chẳng khác gì! Và tại sao họ lại sợ ư? Ta sợ hãi chỉ khi chính bản thân ta không hài hòa. Con người ta sợ hãi bởi vì họ không bao giờ thú thật với lòng mình. Cả một xã hội được cấu thành bởi những người sợ hãi những thứ không tên từ trong chính bản thân họ! Họ đều cảm nhận được rằng những luật lệ họ đang sống không hề còn giá trị, rằng họ đang sống mà tuân theo những điều luật cổ xưa – kể cả tôn giáo hay phẩm hạnh đều không phù hợp với nhu cầu hiện tại. Trong hơn một trăm năm, Châu Âu ngoài học tập và xây dựng nhà máy thì chẳng làm gì cả! Họ biết chính xác để giết một người thì cần bao nhiêu oz [48] thuốc súng nhưng họ lại không biết làm thế nào để cầu nguyện trước Chúa, thậm chí còn chẳng biết làm sao để trở nên vui vẻ trong một giờ đồng hồ với sự mãn nguyện tròn đầy. Chỉ cần nhìn vào cái quán bar cho học sinh cũ nát kìa! Hay nơi mà những kẻ giàu có tụ họp đó. Vô vọng. Sinclair thân mến ạ, chẳng có gì tốt đẹp sẽ đến từ những thứ này cả. Mớ hỗn độn những kẻ đang sợ hãi vì chìm trong sự khiếp đảm và hiểm ác, chẳng ai tin tưởng một ai cả. Họ ao ước đi theo một mẫu hình lý tưởng nào đó, kể cả mẫu hình đó không tồn tại nhưng rồi họ sẽ tìm ra bằng được một kẻ đã chết để dựng nên một tượng đài mới. Tôi có thể cảm nhận được sự mâu thuẫn đang gần kề. Nó đang đến, tin tôi đi, sớm thôi. Đương nhiên nó sẽ không khiến thế giới tốt lên. Dù những người công nhân có giết những chủ xưởng, hay kể cả Đức có phát động chiến tranh với Nga, thì đó cũng chỉ đơn thuần là sự thay đổi quyền sở hữu mà thôi. Nhưng nó cũng không hoàn toàn là vô ích. Nó sẽ mở ra sự sụp đổ của những hình mẫu hiện tại, những vị thánh thần thời đồ đá sẽ bị quét sạch. Thế giới, như hiện tại, đang muốn chết, muốn diệt vong – và nó sớm muộn sẽ như thế.”

“Và trong sự xung đột này, điều gì sẽ xảy ra với chúng ta?”

“Với chúng ta sao? Ồ có lẽ chúng ta cũng sẽ diệt vong theo thôi. Có thể giống loài của chúng ta cũng sẽ bị xử bắn đấy. Chỉ có điều chúng ta sẽ không bị kết liễu một cách dễ dàng như thế. Xung quanh ta, quanh những kẻ sống sót như chúng ta, tương lai luôn ở phía trước. Ý chí của nhân loại, thứ mà Châu Âu của chúng ta đã từng phủ nhận khi đắm chìm trong công nghệ, một lần nữa sẽ lại dẫn đầu. Và rồi người ta sẽ thấu tỏ rằng ý chí của loài người chưa bao giờ và không bao giờ giống với ý chí của xã hội hiện tại, chính quyền và người dân, câu lạc bộ hay nhà thờ. Không, điều mà Tự nhiên mong mỏi ở loài người luôn khắc sâu trong mỗi cá nhân, trong cậu, và trong tôi. Nó tồn tại trong Chúa Jesus, hay in hằn trong Nietzsche. Những khuynh hướng quan trọng và có thể mang trên mình những hình hài khác nhau mỗi ngày này rồi cũng sẽ có chỗ đứng trở lại khi và chỉ khi xã hội hiện thời sụp đổ.”

Chúng tôi dừng lại trước một khu vườn cạnh bờ sông khi trời đã tối, Demian nói: “Đây là nơi chúng tôi sống, hãy đến thăm chúng tôi sớm nhé. Chúng tôi sẽ đợi cậu.”

Với tâm trạng phấn chấn, tôi đi bộ một quãng đường dài trở về nhà, băng qua màn đêm giờ đã trở lạnh. Đâu đó vẫn còn những sinh viên bước loạng choạng một cách ồn ào quanh phố. Tôi vẫn thường để ý sự đối lập giữa sự vui vẻ lố bịch của chúng với sự tồn tại cô độc của tôi, đôi khi thì bằng vẻ khinh miệt, đôi khi lại với tâm trạng mất mát. Nhưng chưa bao giờ cho đến tận hôm nay, tôi mới cảm thấy bình tĩnh và cảm nhận rõ ràng rằng những điều đó chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến tôi, rằng thế giới này đã chết và tách biệt với tôi đến nhường nào. Tôi nhớ lại những người làm công chức ở chốn quê nhà, những nhà quý tộc già mãi níu lấy ký ức về những ngày say khướt ở trường đại học như vật lưu niệm từ nơi cực lạc, để nhào nặn một sự tôn thờ những năm tháng sinh viên “đã tan biến” của họ như những bài thơ hay những lời lãng mạn viển vông đã ăn sâu trong tuổi thơ họ. Đâu đâu cũng y hệt nhau! Bất cứ nơi nào họ cũng tìm kiếm “tự do” và “may mắn” trong quá khứ, trong nỗi kinh sợ tột cùng về những trách nhiệm hiện tại của họ và cả con đường họ sẽ đi trong tương lai. Họ chè chén và say khướt suốt mấy năm và rồi quay ngoắt trở thành một quý ông nghiêm trang phục vụ cho đất nước. Phải, xã hội này mục ruỗng cả rồi, và sự ngu ngốc của những sinh viên ấy còn chưa phải là tệ hại nhất, giữa hàng trăm những thứ tệ hại hơn.

Khi tôi về đến nhà và chuẩn bị đi ngủ, tất cả những suy nghĩ này đều bỗng nhiên bay biến và toàn bộ sự sống của tôi đều dựa hết vào lời hứa ngày hôm nay tôi có được. Và cầu được ước thấy, ngay ngày mai, tôi sẽ được gặp mẹ của Demian. Mặc xác lũ sinh viên say xỉn và tự bôi nhọ chính mình, hay cái thế giới thối nát trực chờ sụp đổ đi, tôi không quan tâm. Tôi chỉ chờ đợi một điều duy nhất – được nhìn thấy định mệnh của mình trong một lốt vỏ hoàn toàn mới.

Tôi ngủ say đến sáng. Ngày mới ló rạng với tôi như một nghi lễ linh thiêng, điều mà cả tuổi thơ chưa một lần tôi cảm nhận. Tôi cảm thấy bồn chồn, nhưng không hề sợ hãi gì cả. Tôi cảm thấy một ngày trọng đại sắp bắt đầu và tôi nhìn thấy, trải nghiệm được thế giới xung quanh tôi thay đổi, đầy kỳ vọng, ý nghĩa và nghiêm trang; thậm chí tôi còn thấy cơn mưa đầu thu mang một vẻ đẹp riêng biệt và một bầu không khí lễ hội tràn ngập hạnh phúc và những khúc nhạc thần thánh. Lần đâu tiên, thế giới ngoài kia hòa vào thế giới nội tại, đó chính là niềm vui khi được sống. Không còn những nhà, những tủ kính bày hàng nào, không một gương mặt nào phiền nhiễu tôi, mọi thứ đúng như những gì nó nên như thế, không còn những vẻ buồn chán tẻ nhạt của thường nhật, mọi thứ đều là một phần của Tự nhiên, đầy kỳ vọng và sẵn sàng đối mặt với định mệnh của nó bằng một lòng kính trọng. Đó là thế giới trong mắt tôi vào những buổi sáng khi tôi vẫn còn là một thằng nhóc trong những ngày lễ hội, vào Giáng Sinh hay lễ Tạ Ơn. Tôi đã quên mất rằng thì ra thế giới vẫn còn có thể đáng yêu đến vậy. Tôi đã lớn lên mà vẫn dính lấy nội tại quá lâu. Tôi đã cam chịu tới độ mất đi lòng cảm kích đối với thế giới ngoài kia, đến mức việc thế giới ấy mất đi những mảng màu tươi sáng gắn liền với những mất mát mà tuổi thơ tôi gánh chịu, và theo đúng như lẽ thường, một người phải trả giá cho tự do và sự trưởng thành trong tâm hồn bằng cách hy sinh vùng hào quang thân thương này. Nhưng giờ đây, tôi mừng vui khôn xiết, tôi thấy mọi thứ trước giờ chỉ là bị chôn vùi hoặc che phủ mà thôi, và dù cho bạn giờ có tự do và chối bỏ tuổi thơ hạnh phúc của chính mình thì việc ngắm nhìn thế giới này tỏa sáng và nhấm nháp sự rung động qua sức tưởng tượng của một đứa trẻ một cách ngon lành vẫn có thể xảy ra.

Và thời khắc đã đến khi tôi tìm đường về lại khu vườn bên rìa thị trấn, nơi mà tôi đã từ biệt Demian vào đêm trước. Đằng sau những tán cây cao lớn và ẩm ướt là một ngôi nhà nhỏ xinh đầy sức sống. Những cành hoa nở tràn sau bụi cỏ; và phía sau những ô cửa sổ lấp lánh là những bức tranh và những dàn sách treo trên bức tường tối màu. Một người hầu gái đứng tuổi trong bộ váy đen và chiếc tạp dề trắng đã đưa tôi vào và treo áo giúp tôi.

Cô ta để tôi lại một mình nơi hành lang. Tôi nhìn quanh và ngay lập tức bị cuốn vào giữa giấc mộng của mình. Có một bức tranh quen thuộc treo trên bức tường gỗ tối màu, ngay trên cánh cửa, chính là bức tranh con chim với cái đầu ưng vàng óng đang cố vùng vẫy thoát khỏi xiềng xích thế gian của tôi. Tôi đứng chết trân ở đó vì cảm động, tôi cảm thấy vừa vui vừa đau như thể ngay tại thời khắc này tất cả những gì tôi đã làm và trải qua đều trở lại bên tôi như một lời hồi đáp và bù đắp trọn vẹn. Trong thoáng chốc tôi nhìn thấy một loạt những hình ảnh ập vào tâm trí: ngôi nhà của cha mẹ với bức phù điêu trên cửa, cậu bé Demian ngồi phác họa bức phù điêu đó, hay chính bản thân tôi run rẩy sợ hãy trước Kromer, và vẫn là tôi, trưởng thành ngồi trong phòng vẽ nên bức tranh con chim trong mơ, linh hồn bị giam hãm trong chính mớ rắc rối của chính mình, và tất cả mọi thứ, tất cả ùa về ngay tại lúc này trong tôi đây, một lần nữa được khẳng định lại bởi tôi, được giải đáp và được thừa nhận.

Tôi cứ nhìn chằm chằm vào bức tranh mà khóc. Rồi tôi hạ tầm mắt xuống, ngay phía dưới bức tranh nơi cánh cửa mở là một người phụ nữ trong bộ đầm đen. Là bà – người phụ nữ ấy.

Tôi không thốt nổi nên dù chỉ một lời. Nụ cười đầy phẩm cách hiện lên trên gương mặt xinh đẹp giống hệt con trai bà, không bị ảnh hưởng bởi thời gian và tuổi tác, và căng đầy sức mạnh nội tại. Ánh nhìn của bà mang theo sự hoàn thiện, lời chào của bà đón tôi trở về nhà. Tôi yên lặng vươn tay về phía bà, và bà nắm trọn tay tôi trong đôi tay ấm áp của mình.

“Chào mừng con, Sinclair. Mới nhìn ta đã nhận ra chính là con rồi!” Giọng bà trầm và ấm áp, và tôi uống cạn giọng nói ấy như đang thưởng thức thứ rượu ngọt ngào. Và giờ tôi nhìn lên gương mặt tĩnh lặng của bà, với đôi mắt khó dò, đôi môi đỏ mọng tươi đẹp và đường mày như của những bậc vui chúa.

“Con rất vui,” Tôi nói và hôn vào tay bà. “Con tin rằng mình đã tốn cả đời để đi, và giờ đây đã trở về nhà.”

Bà cười như một người mẹ.

“Một người không bao giờ về được nhà cả,” bà nói. “Nhưng ở nơi những con đường tương tự giao nhau thì cả thế giới sẽ tựa như nhà, trong một khoảng thời gian.”

Bà giải thích cảm giác của tôi về bà. Chất giọng và từng lời nói đều giống với đứa con của bà nhưng cũng lại vô cùng khác biệt. Mọi thứ đều chín chắn hơn, ấm áp hơn và trở nên hiển nhiên rõ ràng hơn hẳn. Nhưng cũng như Max chưa bao giờ khiến người khác cảm thấy anh là một cậu nhóc, mẹ của anh cũng không hề giống một người phụ nữ có một đứa con trưởng thành, khuôn mặt và mái tóc bà thật trẻ trung và ngọt ngào, làn da căng tràn nuột nà, và khuôn miệng thì căng mọng. Còn đẹp hơn trong giấc mơ của tôi.

Và như vậy, số mệnh của tôi đã tự hé lộ trong một lớp vỏ bọc hoàn toàn mới, không còn nghiêm khắc, không còn bỏ tôi một bên, nhưng lại tươi mới và đầy hoan hỉ! Tôi không cố giải thích, cũng không thề thốt gì, tôi đã chạm được tới một cái đích, một cột mốc đáng nhớ trên con đường của tôi: và từ đây, chặng tiếp theo trong hành trình này sẽ không còn trở ngại, trở nên phi thường và dẫn thẳng đến những vùng đất hứa.

Giờ đây dù điều gì xảy đến với, tôi vẫn đắm chìm trong sự ngây ngất: rằng người phụ nữ này tồn tại, và tôi có thể uống cạn giọng nói hay hít tràn lồng ngực hình dáng của bà. Bà trở thành mẹ tôi, người yêu dấu hay thánh thần cũng chẳng quan trọng – chỉ cần bà ở đây! Và ước gì con đường tôi đi gần với con đường của bà.

Bà chỉ lên bức tranh của tôi.

“Con chưa bao giờ khiến Max hạnh phúc hơn khi nó nhận được bức tranh này đâu,” bà trầm ngâm. “Và ta cũng vậy. Chúng ta đã đợi con, và khi bức tranh này gõ cửa, chúng ta biết rằng con đã tìm được lối đi cho mình. Khi con còn là một cậu nhóc, Sinclair, một ngày con trai ta tan trường về và nói: có một thằng nhóc ở trường có dấu ấn nơi chân mày, cậu ta nhất định phải trở thành bạn của con. Đó chính là con. Con đã phải trải qua một khoảng thời gian khó khăn nhưng chúng ta có niềm tin nơi con. Con đã gặp lại Max trong một kỳ nghỉ, có lẽ khi ấy con cũng mười sáu rồi. Max có kể với ta –”

Tôi cắt ngang: “Anh ấy đã nói cả chuyện đó sao? Đó là khoảng thời gian khốn khổ nhất trong đời con!”

“Phải, Max nói với ta rằng Sinclair đang bước trên đoạn đường khó khăn nhất. Cậu ấy phải cố gắng hơn nữa để có thể ẩn náu giữa những người tầm thường khác. Cậu ấy thậm chí bắt đầu tới những quán bar, nhưng không thành công. Dấu ấn của cậu ấy mờ đi nhưng nó vẫn âm thầm rát bỏng. Phải vậy không?”

“Đúng vậy, chính là thế. Và rồi con đã gặp Beatrice và cuối cùng cũng tìm thấy một người thầy mới. Tên anh ấy là Pistorius. Và chỉ khi đó con mới rõ ràng được tại sao thời niên thiếu mình lại dính chặt với Demian và không thể thoát khỏi anh ấy. Mẹ thân mến, khi ấy con vẫn thường nghĩ rằng mình phải sống cho chính mình. Có phải điều này với ai cũng khó khăn phải không?”

Bà vuốt ve mái tóc của tôi, những động chạm nhẹ như gió thoảng.

“Được sinh ra luôn luôn là một việc khó khăn. Con biết đấy, những con gà con cũng phải vẫy vùng khổ sở thế nào để phá vỏ chui ra. Ngẫm lại và tự hỏi bản thân xem: Có phải con đường con đi toàn khó khăn hay không? Có phải nó chỉ có khó khăn hay không? Chẳng phải nó cũng rất đẹp sao? Con có thể nghĩ đến một cách làm đẹp đẽ hơn và dễ dàng hơn không?”

Tôi lắc đầu.

“Nó khó khăn,” Tôi nói như thể tôi đã buồn ngủ lắm rồi, “nó đã đầy chông gai cho đến khi giấc mơ ấy xuất hiện.”

Bà gật đầu và nhìn xuyên thẳng vào tôi.

“Phải, con cần phải tìm được giấc mơ, sau đó con đường sẽ trở nên dễ dàng hơn. Nhưng chẳng có giấc mơ nào là mãi mãi cả, giấc mộng sau nối tiếp giấc mộng trước, và một người không nên bám lấy mãi một giấc mơ cụ thể nào.”

Tôi giật mình và hoảng sợ. Đó chẳng phải là một lời cảnh báo, một cử chỉ phòng vệ, sớm đã như vậy sao? Nhưng chẳng quan trọng, tôi đã chuẩn bị tâm thế để được bà dẫn lối mà không cần biết đích đến là đâu.

“Con không biết,” tôi nói, “rằng một giấc mơ sẽ kéo dài bao lâu. Con ước nó sẽ kéo dài mãi mãi. Định mệnh của con đã chấp nhận con qua bức tranh kia tựa như một người yêu dấu. Con thuộc về số mệnh của mình chứ không phải bất cứ ai khác.”

“Chừng nào giấc mơ vẫn là định mệnh của con, con vẫn nên tin vào nó,” bà khẳng định lại bằng chất giọng nghiêm nghị. Tôi đã trải qua buồn đau và sự ham muốn cái chết trong khoảng thời gian mê muội này. Tôi cảm nhận được nước mắt mình rơi – đã quá lâu rồi tôi không khóc – những giọt lệ rơi không ngừng từ khóe mắt. Tôi vội quay lưng lại phía bà và bước về phía cửa số, nhìn vô định vào khoảng không phía trước.

Tôi nghe thấy giọng bà phía sau, vẫn điềm tĩnh và tràn đầy yêu thương như một vại rượu ngon nồng.

“Sinclair, con vẫn còn là một đứa trẻ! Định mệnh yêu con. Và một ngày nào đó nó sẽ hoàn toàn thuộc về con – như con đã mơ về nó – nếu con tiếp tục vững tin vào nó.”

Cuối cùng tôi cũng trấn tĩnh lại và quay lại hướng của bà. Bà đưa tay cho tôi.

“Ta có một vài người bạn,” bà mỉm cười, “một vài người bạn rất thân gọi ta là Frau Eva. Con cũng có thể gọi như vậy nếu muốn.”

Bà dẫn tôi qua cửa, và chỉ vào khu vườn. “Max đang ở ngoài đó.”

Tôi sững sờ và run rẩy dưới những tán cây, chẳng còn biết liệu mình đang tỉnh hay đang lạc trong mơ. Mưa thả từng hạt nhẹ nhàng xuyên qua từng cành lá. Tôi bước chầm chậm vào trong khu vườn mở dọc theo bờ sông. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy Demian. Anh đang đứng ở hiên hóng mát trong vườn, cởi trần và đang đấm liên tục vào bao cát treo lơ lửng.

Tôi dừng lại, chết lặng. Demian với bờ ngực rộng và những đường nét nam tính vững chãi trông đẹp trai không thể tả được, cánh tay anh trưởng thành và mạnh mẽ với những cơ bắp căng đầy, những cử động uyển chuyển nơi hông, vai và cổ tay.

“Demian,” Tôi gọi to. “Anh đang làm gì thế?”

Anh cười rạng rỡ. “Tập luyện thôi. Tôi đã hứa với tên người Nhật sẽ tham gia một trận quyền anh, cái người đàn ông nhỏ thó lanh lợi như con mèo ấy, và tất nhiên, quỷ quyệt, nhưng hắn cũng chẳng làm gì tôi được. Món nợ nhỏ về phen bẽ bàng lần trước, tôi phải trả đủ cho hắn.”

Anh mặc lại áo sơ mi và áo khoác của mình.

“Cậu đã gặp mẹ tôi chưa?” Anh hỏi.

“Tôi gặp rồi, Demian, anh có một người mẹ thật tuyệt vời! Frau Eva! Cái tên mới hợp với bà làm sao. Bà ấy như một người mẹ của vạn vật vậy.”

Trong khoảnh khắc anh ấy đã nhìn xuyên thẳng vào tôi.

“Vậy là cậu đã biết tên của bà rồi à? Cậu nên tự hào. Cậu là người đầu tiên mà bà ấy cho biết tên ngay trong lần gặp đầu tiên.”

(còn tiếp)


*Chú thích

[47] Nietzsche

Nietzsche.later.years.jpg

Friedrich Wilhelm Nietzsche là một nhà triết học người Phổ. Ông bắt đầu sự nghiệp như là một nhà ngữ văn học và viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn hóa đương thời, và triết học. Các tác phẩm của Nietzsche nổi bật với phong cách viết của ông, thường mang tính ẩn dụ (aphorism) và nhiều nghịch lý hơn là mức độ thông thường của các bài luận triết học. Nietzsche không được đánh giá cao bởi những người đương thời trong suốt cuộc đời của ông, nhưng đầu thế kỉ 20, ông đã được giới trí thức ở Đức, Pháp và Anh công nhận. Ông bắt đầu bị mang tiếng xấu tiếng khi Đảng Quốc xã của Đức chọn ông là một tiền bối, mặc dù Nietzsche có quan điểm chống chủ nghĩa bài Do Thái và chủ nghĩa dân tộc Đức. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, triết gia Walter Kaufmann bắt đầu một cố gắng bền bỉ nhằm khôi phục lại danh tiếng của Nietzsche trong các nước nói tiếng Anh, và vào nửa sau của thế kỉ 20 Nietzsche đã được xem là một nhân vật quan trọng có ảnh hưởng lớn trong triết học hiện đại. Trực tiếp và gián tiếp (thông qua Martin Heidegger), Nietzsche đã ảnh hưởng đến thuyết hiện sinh (existentialism), chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism), phân tâm học (psychoanalysis) và nhiều tư tưởng theo sau đó.

[48] OZ: Ounce là một đơn vị đo khối lượng trong một số hệ đo lường khác nhau, bao gồm các hệ thống khác nhau đo khối lượng tạo thành một phần của hệ đo lường Anh và hệ đo lường tập quán Mỹ. Giá trị của nó thay đổi tùy theo hệ thống. Các dạng ounce được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là Ounce avoirdupois quốc tế và Ounce troy quốc tế.

[49] Young Europe (Hội thanh niên châu Âu):

Hội thanh niên châu Âu là một hiệp hội quốc tế được thành lập vào năm 1834 bởi Giuseppe Mazzini dựa trên mô hình của Hội thanh niên Ý. Hiệp hội bao gồm những nhóm hội của Hội thanh niên Ý, Hội thanh niên Ba Lan và Hội thanh niên Đức. Các hội này hoạt động độc lập nhưng có gắn bó mật thiết thông qua một uỷ ban trung ương, nhằm đẩy mạnh các nguyên tắc về tự do, bình đẳng và nhân quyền tại châu Âu.

Lý tưởng cơ bản và chính yếu nhất của Hiệp hội xuất phát từ thực tế cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 đã nhân rộng tư tưởng về quyền tự do cá nhân, vì thế, một cuộc cách mạng khác dành cho quyền tự do của toàn dân tộc là vô cùng cần thiết. Tầm nhìn của Mazzini vươn xa hơn thế bởi ông hy vọng trong một tương lai xa, chắc chắn những dân tộc tự do sẽ gắn kết lại để hợp thành một khối liên kết châu Âu, có một tổ chức như quốc hội liên bang đề ra quy định về những lợi ích chung của các quốc gia đó.

Các nguồn tài liệu chú thích:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ounce
https://vi.wikipedia.org/wiki/Friedrich_Nietzsche
https://en.wikipedia.org/wiki/Young_Europe


Hết phần I – Chương VII.

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT THUỘC SỞ HỮU CỦA THE LITTLE GROUND-FLOOR.
XIN KHÔNG REPOST TẠI NƠI KHÁC HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI.

Advertisements

3 thoughts on “[Trans] Demian – Chương VII (I)

  1. Thật là khổ sở và bất an trong cô đơn, cố hoà vào bầy đàn một cách gượng ép nhưng giờ mình thấy thật hạnh phúc vì đã chọn sự cô đơn này nếu không mình đã mất dấu ấn của Cain rồi.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s