dịch · Translated Books

[Trans] Những người ra đi từ Omelas

ID_HCO2017MTH02TOWWAFO.jpeg

Những người ra đi từ Omelas

Từ tuyển tập truyện ngắn The Wind’s Twelve Quarters.
Tác giả: Ursula Le Guin

Biên dịch: Gf93

Biên tập: An

Tác phẩm Những người ra đi từ Omelas của Ursula LeGuin là một câu chuyện mạnh mẽ 
về chủ đề đạo đức học vị lợi dành cho học sinh trung học và về vấn đề rằng liệu 
có thể chấp nhận cho một người chịu đau khổ nếu điều đó mang lại sự tốt đẹp cho 
nhiều người hơn hay không.

Plotted-LeGuin-AndrewDeGraff-fullsize.jpg

Tiếng chuông ngân vang khiến đàn nhạn bay vút lên bầu trời, sáng rực bên bờ biển là thành phố Omelas đang tưng bừng trong Lễ hội mùa Hè. Những sợi dây chão căng trên những con tàu đậu nơi bến cảng lấp lánh với những lá cờ màu. Trên những con phố, giữa những ngôi nhà ngói đỏ và những bức tường quét sơn, giữa những khu vườn phủ rêu cũ kỹ và dưới bóng những hàng cây to, qua những công viên và những tòa nhà công rộng lớn, đoàn người diễu hành nối bước nhau. Có người lịch thiệp: những người già khoác trên mình chiếc áo khoác dạ dài màu hoa cà hay xám, hay những người thợ lành nghề nghiêm nghị, hay những người phụ nữ thâm trầm ôm theo con vừa đi vừa nói chuyện. Nơi con phố khác, nhạc điệu chơi nhanh hơn, tiếng cồng chiêng và trống lục lạc râm ran hòa cùng người dân đang nhảy múa, cả đoàn diễu hành đều hòa chung điệu nhảy. Trẻ con lẩn ra chui vào, tiếng gọi mời vút cao trong trẻo như tiếng đàn chim nhạn ngang qua, át cả tiếng đàn tiếng hát. Tất cả đám rước đều hướng về phía bắc thành phố, nơi có một cánh đồng lớn phì nhiêu ngập cỏ mang cái tên Đồng Xanh, những chàng trai cô gái, trần trụi giữa không gian quang đãng, đôi bàn chân và mắt cá chân lấm bùn, và cánh tay dài dẻo dai, đang huấn luyện những con ngựa cứng đầu trước thềm cuộc đua đấu. Những chú ngựa không được trang bị gì ngoài một cái dây cương không hàm thiếc. Bờm của chúng được tết cùng với những dải cờ màu vàng, bạc, hay xanh lá. Chúng hừ mũi và nhảy dựng lên rồi huênh hoang với nhau, con nào cũng vô cùng phấn khích. Đàn ngựa trở thành loài vật duy nhất tiếp nhận những nghi lễ của chúng ta như là của chúng. Và xa xa về phía tây bắc, là thành phố Omelas, dựa lưng vào những vách núi thẳng đứng, hướng ra vùng vịnh. Không khí buổi sáng trong lành đến mức khối tuyết bao phủ dãy Mười tám Đỉnh cũng tan chảy bởi ánh nắng chan hòa dưới mảnh trời xanh biếc đang dần trải đều khắp dặm. Gió chỉ vừa đủ để khiến những tấm biểu ngữ quanh trường đua đôi lúc đu đưa dập dờn. Trong sự tĩnh lặng của những cánh đồng trải rộng xanh ngắt, người ta có thể nghe thấy tiếng nhạc len lỏi khắp những con phố trong thành, xa hơn và gần hơn, rồi tiến đến gần hơn nữa là không khí ngập tràn vui tươi mà hết lần này đến lần khác rung động, tụ lại rồi lại vỡ ra thành từng hồi chuông sướng vui lanh lảnh.

Vui biết bao! Phải làm sao để kể được về niềm vui? Làm thể nào để miêu tả cư dân nơi thành Omelas?

Họ chẳng phải những người đơn giản, dù họ hạnh phúc, bạn thấy đấy. Nhưng chúng ta sẽ không nhắc đến những từ vui vẻ thêm nữa. Tất cả những nụ cười đều đã trở thành chuyện xưa chuyện cũ. Miêu tả như thế lại khiến chúng ta ngộ nhận. Miêu tả như thế lại khiến chúng ta tưởng tượng ra nhà Vua, cưỡi trên lưng một con ngựa giống rực rỡ huy hoàng và vây quanh là những hiệp sĩ ưu tú uy nghiêm, hoặc có thể ngồi trong kiệu vàng được khiêng bởi những tên nô lệ tráng kiện. Nhưng chẳng có vị vua nào cả. Họ cũng không động đến đao kiếm hay dùng nô lệ. Họ chẳng hề là những kẻ man rợ thô lỗ. Tôi không biết về luật lệ và quy định trong xã hội của họ, nhưng tôi đồ rằng chúng ít đến không ngờ. Vì nơi đây không hề theo chế độ quân chủ và nô lệ, họ sống mà không cần trao đổi hàng hóa, quảng cáo yết thị hay cảnh sát ngầm, hay là bom. Nhưng tôi nhắc lại, rằng họ không hề đơn giản, không hề là những con chiên ngoan hiền, hay những người man khai lương thiện, hay những người duy tâm dịu dàng. Họ không hề kém phức tạp hơn so với chúng ta. Vấn đề là chúng ta thì có một thói quen xấu, lại được khuyến khích bởi những nhà thông thái rởm và những kẻ ngụy biện xảo trá, về việc coi hạnh phúc là một thứ có phần ngu xuẩn. Chỉ có nỗi đau mới là hiểu biết, chỉ có quỷ dữ mới thú vị bội phần. Đó chính là cách làm phản của người nghệ sĩ: phủ nhận sự thầm thường của ác ma và nỗi buồn tẻ khủng khiếp của nỗi đau. Nếu không tránh được thì hãy cố tận hưởng chúng. Nếu đau thì hãy cho càng thêm đau. Nhưng tán dương nỗi tuyệt vọng nghĩa là kết án niềm vui, ghì chặt lấy bạo lực nghĩa là tự đánh mất đi sự thấu hiểu vạn vật. Chúng ta đã gần như mất đi sự thấu hiểu đó, chúng ta không còn có thể miêu tả một con người đang hạnh phúc, cũng như không thể tán thưởng niềm vui được nữa. Tôi sẽ kể cho bạn nghe về những con người ở Omelas thế nào đây? Họ không phải những đứa trẻ vui tươi khờ khạo – dù con họ, trên thực tế, đang hạnh phúc. Họ là những người trưởng thành, thông minh, đầy đam mê, những người sống một cuộc sống không hề khổ sở bất hạnh. Thần kỳ làm sao! Nhưng tôi ước mình có thể miêu tả tốt hơn. Tôi ước mình có thể thuyết phục được bạn.

Omelas qua lời tôi kể nghe như một thành phố trong truyện cổ tích, có từ rất lâu tại một nơi rất xa, như những ngày xửa ngày xưa. Có lẽ tốt nhất bạn nên tự nghĩ về nó bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, vì hẳn là tôi không thể làm hài lòng tất cả. Ví dụ như về công nghệ thì sao? Tôi nghĩ sẽ không bao giờ có xe hơi trên đường hay trực thăng trên bầu trời, bởi vì sự thật là cư dân của Omelas toàn những người hạnh phúc. Cơ sở của hạnh phúc là phân biệt được đâu là cần thiết, đâu là vừa không cần thiết vừa có hại, và đâu là có hại. Tuy nhiên, khi người ta thuộc phạm trù ở giữa, nơi có những thứ không cần thiết và cũng chẳng tai hại, những sự an nhàn, xa xỉ, hoa mỹ, v… v…, họ hoàn toàn có thể sở hữu hệ thống sưởi, tàu điện ngầm, máy giặt và tất cả những thiết bị kỳ diệu và chưa được phát minh ở nơi này, như những nguồn phát sáng bay lơ lửng, năng lượng không dùng chất đốt, hay cách chữa cảm mạo thông thường. Hoặc giả dù họ chẳng có thứ gì như trên thì cũng không quan trọng. Tùy theo cách mà bạn muốn. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người từ các thị trấn ven biển đều kéo về Omelas trong những ngày qua trước thềm Lễ hội, trên những con tàu cao tốc nhỏ nhắn và những chiếc xe điện hai tầng, và tôi cũng nghĩ nhà ga ở Omelas thực ra là tòa nhà đẹp đẽ nhất thị trấn, dù nó đơn sơ hơn rất nhiều so với Chợ Nông sản nguy nga. Nhưng cứ cho là có cả những đoàn tàu, tôi e rằng Omelas đã khiến cho vài người trong các bạn nghĩ đó là một nơi quá lố và bảnh chọe rồi. Những nụ cười, những tiếng chuông, những cuộc diễu hành, những con ngựa, vân vân mây mây. Nếu thế, hãy thêm vào một cuộc trác táng. Nếu một cuộc chè chén say sưa có tác dụng, đừng ngại ngần. Tuy nhiên, dù đây là do tôi nghĩ đến đầu tiên, nhưng xin đừng tưởng tượng ra những ngôi đền có các thầy tế và nữ tu khỏa thân xinh đẹp đang trong trạng thái mê ly và sẵn sàng giao cấu với bất kỳ người nào, dù là người yêu hay kẻ lạ mặt, những người khát cầu sự hợp nhất với thần tính sâu sắc nhất của máu thịt. Nhưng tốt hơn hết là ở Omelas không nên có ngôi đền nào – ít nhất là không phải những ngôi đền toàn người. Tín ngưỡng thì được, nhưng tăng lữ thì đừng. Chắc chắn những người lõa thể xinh đẹp có thể chỉ cần đi lang thang và chào bán chính mình giống như những miếng bánh soufflé tuyệt trần, kêu gọi cơn đói của những kẻ bần hàn và khêu gợi sự đê mê xác thịt. Hãy để họ tham gia vào buổi diễu hành. Hãy để tiếng trống lục lạc vang lên trong khi giao hợp, để vẻ rực rỡ của ham muốn hiện lên trên những chiếc chiêng, và (không quan trọng lắm) hãy để con cháu của những lễ nghi đầy vui sướng đó được yêu thương và chăm sóc bởi tất cả mọi người. Tôi biết rõ một điều rằng ở Omelas không có điều gì tội lỗi. Nhưng còn gì khác cũng nên ở đó nữa? Đầu tiên tôi đã nghĩ đến thuốc phiện, nhưng điều đó rất khắt khe về đạo đức. Còn dành cho những người muốn thấy sự hiện diện của nó, những ngọt ngào thoảng qua mà vương vấn của đám hạt nhỏ li ti có thể tỏa hương thơm khắp những con đường, kích thích những khoái cảm nhục dục đến mức không ngờ. Những tinh thể ban đầu mang đến cảm giác nhẹ nhàng và rạng ngời quá đỗi tới tâm trí và đầu ngón tay chân, tiếp đến là đôi giờ chìm đắm trong mê man bạc nhược, và cuối cùng là những ảo cảnh tuyệt vời về những bí mật thẳm sâu và những điều ẩn giấu tận cùng của Vạn Vật. Và nó không hề gây nghiện. Đối với những người có khẩu vị khiêm tốn hơn, tôi nghĩ nó có thể là bia. Còn gì nữa, còn gì khác thuộc về thành phố đầy niềm vui này đây? Cảm giác chiến thắng, hẳn rồi, hay sự tán dương lòng dũng cảm. Nhưng vì chúng ta đã không nói đến tăng lữ, vậy thì cũng sẽ không nói đến quân nhân. Niềm vui có được sau những cuộc tàn sát thành công không phải niềm vui chân chính, không hề, nó đáng sợ và tầm thường biết bao.

Một niềm thỏa mãn lớn lao vô bờ, một chiến công cao quý không đến từ trận đối đầu với thù địch ngoài kia, mà đến từ sự đồng cảm với những tâm hồn trong sáng và ngay thẳng nhất của tất thảy mọi người cùng vẻ đẹp lộng lẫy của mùa hè. Đây chính là điều luôn neo đậu nơi trái tim của người dân Omelas, và chiến thắng mà họ ngợi ca là chiến thắng của sự sống. Thật sự tôi không nghĩ có nhiều người trong số họ cần đến liều thuốc đê mê ấy.

Phần lớn đoàn người diễu hành giờ đã tiến tới những Cánh Đồng Xanh. Một mùi nấu nướng tuyệt diệu bay ra từ những chiếc lều màu xanh và màu đỏ của những người tiếp tế. Gương mặt của những đứa trẻ nhỏ đều đang dính bùn đầy khó chịu, trên bộ râu xám của người đàn ông lấp ló vướng chút vụn bánh mỳ. Nam thanh nữ tú đã trèo lên ngựa và tụ tập quanh vạch xuất phát. Một người phụ nữ đứng tuổi, béo và lùn đang vừa cười vừa phát hoa trong giỏ, những chàng trai trẻ cài những vòng hoa đó lên mái tóc sáng màu. Một đứa trẻ chín mười tuổi ngồi bên rìa đám đông, một mình, chơi nhạc cùng cây sáo gỗ. Người đi ngang qua đều dừng lại nghe và mỉm cười, nhưng họ không nói chuyện với cậu bé, vì cậu chưa từng ngừng chơi và chưa bao giờ nhìn họ, đôi mắt đen láy của cậu ngập tràn mê ly trong thứ âm thanh ngọt ngào đầy mê hoặc.

Cậu kết thúc, dần hạ đôi tay cầm sáo xuống.

Chút tĩnh lặng riêng tư đó như thể là dấu hiệu, tiếng kèn từ rạp gần vạch xuất phát đồng loạt ngân lên: dồn dập, u sầu, và đinh tai nhức óc. Những con ngựa chồm lên, vài con còn hí dài lên báo hiệu. Giữ khuôn mặt điềm đạm, những người cưỡi ngựa trẻ tuổi vuốt ve cổ ngựa và dỗ dành chúng, thì thầm với chúng rằng “Yên nào, yên nào, xinh đẹp của ta, hy vọng của ta…” Họ bắt đầu đứng thành hàng sau vạch xuất phát. Đám đông xung quanh trường đua tựa như một cách đồng cỏ hoa khoe sắc trong gió. Lễ hội mùa hè cứ thế bắt đầu.

Bạn tin được không? Bạn có chấp nhận lễ hội, thành phố, hay niềm vui không? Không ư? Hãy để tôi nói thêm một điều nữa nhé.

Nơi tầng hầm dưới một tòa nhà công xinh đẹp của thành phố Omelas, hay có lẽ là trong hầm chứa của một ngôi nhà riêng rộng rãi, có một căn phòng. Một căn phòng bị khóa kín và không có cửa sổ. Một tia sáng chui vào cửa sổ vướng đầy mạng nhện ở bên kia hầm, rồi tiếp tục len qua những vết nứt đầy bụi bặm của tấm ván. Trong một góc của căn phòng có một vài cây lau sàn, với phần đầu cứng đơ, vón cục đầy mùi hôi thối, dựng cạnh một cái xô rỉ ngoèn. Sàn nhà thì bẩn, ẩm thấp, như những căn hầm bẩn thỉu thông thường. Căn phòng chỉ dài ba và rộng hai bước chân: một căn phòng đơn thuần chỉ để chứa chổi hay những vật dụng không còn sử dụng nữa. Trong căn phòng ấy có một đứa trẻ đang ngồi, có thể là trai, cũng có thể là gái. Trông có vẻ như sáu tuổi, nhưng thực ra đã gần mười. Nó bị thiểu năng. Có lẽ từ khi sinh ra nó đã có khiếm khuyết, hoặc có lẽ nó trở nên khờ dại ngu ngơ vì sợ hãi, suy dinh dưỡng và bị bỏ rơi. Nó ngoáy mũi và đôi khi hí hoáy tay chân, hay có lúc động vào bộ phận sinh dục một cách ngờ ngệch, và nó ngồi chồm hỗm trong góc cách xa cái xô và hai cái giẻ lau nhất có thể. Nó sợ cây lau nhà, nó nghĩ chúng thật ghê rợn. Nó nhắm nghiền đôi mắt, nhưng nó biết những cây lau nhà ấy vẫn ở đó mà thôi; và cửa thì bị khóa, sẽ chẳng ai đến cả. Cửa luôn bị khóa như thế, và chưa từng có ai đến thăm, trừ vài lần – vì đứa trẻ không hề còn chút nhận thức về thời gian và khoảng cách – vài lần khi cánh cửa rung lắc dữ dội và mở ra, rồi có một hay vài người đứng đó. Một trong số họ tiến lại và đá đứa bé cho nó đứng dậy. Những kẻ khác thì không bao giờ lại gần, nhưng nhìn chằm chằm vào nó bằng ánh mắt ghê tởm và khiếp đảm. Bát đựng cơm và ca nước được đổ đầy, rồi cửa lại khóa, và những ánh mắt ấy cũng khuất xa. Những người ngoài cửa chẳng bao giờ nói câu gì, nhưng đứa trẻ, không phải từ đầu đã ở trong căn phòng đó, có thể nhớ rõ ánh mặt trời và giọng nói ngọt ngào của mẹ, đôi khi sẽ cất lên tiếng than yếu ớt. “Con sẽ ngoan mà,” nó nói. “Làm ơn cho con ra khỏi đây. Con sẽ ngoan mà!” Và họ chẳng trả lời. Đứa bé đã từng la hét cầu cứu suốt đêm, và khóc lóc cầu xin ơn huệ, nhưng giờ đây nó chỉ phát ra tiếng rên “ư ư, a a,” và càng ngày, nó càng trở nên kiệm lời. Nó rất gầy và cẳng chân thì không có chút bắp thịt nào, bụng nó nhô ra, mỗi ngày nó chỉ ăn nửa bát ngũ cốc với mỡ. Nó chẳng mặc gì trên người. Mông và đùi thì đầy vết mưng mủ đau đớn, và nó cứ tiếp tục ngồi lên đống phân của chính mình.

Họ đều biết nó ở đó, tất cả những người ở Omelas đều biết. Có vài người đến nhìn nó, vài người khác thì đơn giản chỉ là biết nó ở đó. Họ đều biết rằng nó phải ở đó. Có những người hiểu lý do tại sao, có những người không, nhưng họ đều biết rằng hạnh phúc của họ, hay sự xinh đẹp của thành phố này, sự ân cần của tình bằng hữu, hay sự khỏe mạnh của con cái họ, sự thông thái của những nhà học giả, hay sự lành nghề của những người thợ, thậm chí sự bội thu của mùa màng và sự thuận hòa của thời tiết, đều hoàn toàn phụ thuộc vào sự khốn khổ đến rợn người của đứa bé đó.

Những đứa trẻ thường sẽ được giải thích về điều này khi chúng khoảng tám đến mười hai tuổi, bất cứ lúc nào chúng có khả năng thấu hiểu, và phần lớn những người đến xem đứa bé kia đều là thanh niên, dù người lớn cũng thường xuyên đến, hay quay trở lại để nhìn đứa bé. Không cần biết việc này được giải thích tốt đến thế nào, những khán giả trẻ tuổi ấy luôn bị sốc và phát ốm với cảnh tượng họ nhìn thấy. Họ cảm thấy ghê tởm, vì họ đã cho rằng bản thân mình cao quý hơn. Họ cảm nhận được cơn nóng giận, nỗi sỉ nhục và sự bất lực dù có được giải thích thế nào. Họ muốn làm gì đó cho đứa bé, nhưng họ chẳng thể làm được gì cả. Hẳn sẽ tốt đẹp biết bao nếu đứa trẻ được đưa ra ngoài ánh mặt trời, thoát khỏi nơi tồi tàn đó, nếu nó được tắm rửa sạch sẽ, được cho ăn và vỗ về chiều chuộng. Nhưng nếu làm điều đó, tất cả những phồn vinh, đẹp đẽ và tươi vui của Omelas sẽ úa tàn và bị hủy diệt ngay trong ngày. Đó chính là những điều kiện. Đánh đổi sự tốt đẹp và yên bình của từng người dân ở Omelas cho sự tốt đẹp nhỏ bé ấy: ném đi hạnh phúc của hàng ngàn người cho cơ may hạnh phúc của một người: đó cũng sẽ là lúc họ thừa nhận rằng họ có tội.

Điều kiện rất hà khắc và phải tuyệt đối tuân thủ, thậm chí không một lời nói ân cần nào được nói ra với đứa bé.

Thường thì những người trẻ tuổi sẽ trở về với khuôn mặt đong đầy nước mắt, hay sự phẫn nộ tuôn trào khi họ nhìn thấy đứa trẻ và đối mặt với thứ nghịch lý khủng khiếp ấy. Họ có thể nghiền ngẫm về điều đó hàng tuần hay hàng năm trời. Nhưng thời gian trôi đi khi họ dần nhận ra rằng cho dù nếu đứa trẻ được thả ra, chưa chắc sự tự do sẽ tốt cho nó: đương nhiên nó sẽ cảm thấy chút thỏa mãn mơ hồ về hơi ấm và thức ăn, nhưng tất cả chỉ có vậy. Nó đã trở nên quá ngu ngơ để biết được thế nào là niềm vui đích thực. Nó đã sống trong sợ hãi quá lâu để thoát khỏi bóng ma kìm kẹp ấy. Những thói quen nó có đã khiến nó trở nên quá vụng về để có thể tiếp nhận sự đối xử nhân đạo. Thật vậy, sau một thời gian quá dài, nó chắc chắn sẽ khốn đốn khi không còn bốn bức tường bao quanh bảo vệ, rồi bóng tối đã trở nên quen mắt, và cả đống phân nó ngồi lên. Những giọt nước mắt rơi vì sự bất công cay đắng của họ sẽ sớm khô khi họ bắt đầu nhận thức được sự bất công của thực tế và học cách chấp nhận nó. Nhưng đó là nước mắt và cơn thịnh nộ của họ, là nỗ lực tỏ ra hào hiệp và sự công nhận những bất lực của họ, tất cả có lẽ chính là ngọn nguồn của cuộc sống rực rỡ chói lọi của chính họ. Không hề có thứ hạnh phúc nhạt nhẽo và vô trách nhiệm. Họ biết rằng chính họ, cũng giống như đứa bé kia, không hề tự do. Họ có lòng trắc ẩn. Đứa trẻ đó tồn tại, và việc họ biết về sự tồn tại ấy tạo nên nét quý phái trong kiến trúc, sự thấm thía trong âm nhạc, sự thâm thúy trong khoa học. Đó là bởi vì có đứa bé ấy mà họ mới đối xử tử tế với trẻ em. Họ biết rằng nếu không phải là đứa trẻ bất hạnh ấy phải rên rỉ van lơn trong bóng tối, thì đứa trẻ kia, thằng nhóc thổi sáo, sẽ chẳng còn có thể chơi điệu khúc vui tươi khi những người đua ngựa trẻ tuổi ngoài kia đang tranh đấu trong một buổi sáng đẹp trời đầu hạ.

Giờ thì bạn có tin vào họ nữa không? Họ có trở nên bớt đáng tin hơn không? Nhưng còn một điều nữa tôi muốn nói, và điều này rất lạ thường.

Đôi khi có những cô gái chàng trai đến nhìn đứa trẻ mà khi ra về không hề rơi lệ hay tức giận thở than, thậm chí còn chẳng hề quay về nhà. Đôi khi cũng có người đàn ông hay người phụ nữ trở nên im lặng trong một hai ngày, rồi cũng bỏ nhà ra đi. Những người này ra ngoài phố và lặng lẽ đi bộ một mình. Họ cứ đi, và cứ đi thẳng ra khỏi thành Omelas, qua khỏi những cánh cổng đẹp đẽ ngoài kia. Họ tiếp tục đi qua những trang trại của Omelas. Và dù là thanh niên hay người lớn tuổi hơn, dù nam hay nữ, họ cũng sẽ đi một mình.

Khi màn đêm buông xuống, người lữ hành phải đi dọc theo những con đường làng, giữa những ngôi nhà có cửa sổ tỏa ra thứ ánh sáng màu vàng và nhuộm mình vào bóng tối trên những cánh đồng. Họ đi một mình, đi mãi, về hướng tây hay hướng bắc, hướng về phía những ngọn núi xa. Họ cứ đi. Họ rời xa Omelas, hướng thẳng bước chân mình về bóng tối, và không một lần trở lại. Nơi họ đến là một nơi thậm chí đối với chúng ta còn khó tưởng tượng hơn cả một thành phố ngập tràn hạnh phúc. Tôi chẳng thể nào miêu tả được. Có lẽ nó chẳng tồn tại đâu. Nhưng dường như những người rời đi từ Omelas ấy, họ lại biết rõ đích đến của chính mình.

HẾT.


Mình xin dẫn lại một bài dịch về cảm nhận nội dung của câu chuyện này, cho những bạn nào đọc xong vẫn cảm thấy chưa hiểu rõ được ý đồ tác giả.

Những đứa trẻ ở Omelas chỉ biết về sự tồn tại của đứa trẻ đó khi chúng trưởng thành. Chúng biết rằng sự tồn tại của xã hội hoàn hảo mà chúng sống phụ thuộc vào sự bất hạnh của đứa trẻ đó. Một vài người muốn giúp đứa trẻ, nhưng họ hiểu rằng làm như vậy là sẽ hủy hoại ngay lập tức sự đẹp đẽ, yên bình và vui vẻ của thành phố. LeGuin đã cho chúng ta biết rằng luôn có những điều kiện. Những điều kiện đó phải tuyệt đối tuân thủ.

Nhiều học sinh nói ngay rằng họ sẽ bỏ thành phố bởi vì họ không thể sống mà biết rằng hạnh phúc của mình phụ thuộc vào sự bất hạnh khủng khiếp như vậy. Những người khác nói rằng tuy đứa trẻ phải sống trong một hoàn cảnh kinh khủng, nhưng giúp nó thì sẽ còn tệ hơn vì điều đó hủy hoại hạnh phúc của mọi người và rằng bỏ đi nghĩa là bỏ mọi người và mọi thứ mà họ yêu quý. Khi ngồi lại với nhau, chúng tôi nói về những điều đúng đắn phải làm trong hoàn cảnh đó. Liệu bỏ rơi đứa trẻ ở nơi đó thì có đúng không? Hay thả cho đứa trẻ tự do mới đúng? Cuộc đời tự do của một đứa trẻ ngây thơ, vô tội có đáng để đổi bằng một xã hội không đói nghèo không?

Omelas có phải là một xã hội không tưởng không? Tại sao phải hay không phải? Điều gì làm nên một xã hội hoàn hảo?

Về một điểm nào đó thì trong cuộc thảo luận luôn có một hay hai câu hỏi rằng: Giờ đây hạnh phúc của chúng ta không thể dựa trên sự bất hạnh của người khác phải không? Xã hội của chúng ta có giống Omelas không? Liệu trong cuộc sống chúng ta có gặp phải vấn đề giống như những người ở Omelas không?

Tác giả: Jana
Người dịch: Ca Dao
Nguồn: http://sociallife.vn/nhung-nguoi-den-tu-omelas/

Advertisements

8 thoughts on “[Trans] Những người ra đi từ Omelas

  1. Cảm giác nếu sống trong omelas thì phải sống trong sự cắn rứt lương tâm mãi mãi vậy. Và thứ gì cũng có cái giá của nó. … Buồn thật.

    Like

  2. Cảm ơn chị đã dịch lại truyện.
    Thật ra từ đầu em cũng đọc truyện vì có theo dõi Bangtan, và hứng thú vì âm nhạc của họ mang nhiều ý nghĩa. Nhưng càng đọc, càng nghiền ngẫm lại càng thấy bản thân mình ở trong ấy. Nó giống như những lời gợi ý cho cuộc tìm hiểu bản thân vậy, có gì đó rất giống với sự dẫn lối.

    Like

  3. BTS đã mang mình tới đây. Mình cảm thấy thán phục trí tưởng tượng , cái nhìn đa chiều của tác giả. Lúc đọc giới thiệu trên những tờ báo, mình cảm thấy bất công cho cậu bé và đúng khi 1 omelas hoàn hảo theo cái giá phải trả như thế ko có thật. khi đọc toàn bộ tác phẩm mình thấy có nét rất thực là con người ta lúc mới biết nỗi thống khổ của người khác sẽ khóc, xót thương thay nhưng rồi qua nhưng cân đo đong đếm, tính toán nước mắt sẽ dần khô, chai lỳ vô cảm đến độ coi đó là điều hiển nhiên tất yếu. Còn những người quyết định đi khỏi omelas, tức từ chối sống hạnh phúc dựa trên mất mát đau thương của người khác, sẽ là những người tiên phong dũng cảm khai phá cuộc sống mới hạnh phúc mới cho đúng ý nghĩa.Và cậu bé kia thì sao? Cậu sẽ mãi bị giam cầm, chịu đựng? Tại sao từ đầu họ lại làm như vậy với cậu,và khi trăn trở nếu đưa cậu ra, cậu sẽ ko thích nghi nổi thì sao họ ko nhận ra chính họ đang đi tiếp cái sai của người đi trước kéo dài sự mất đi ý thức, sự khao khát yêu thương của cậu bé, và cứ ngó lơ thì những lớp người tiếp theo sẽ thêm lí do cho hành động vô cảm viện cớ ko thể làm gì hơn?

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s