dịch · Translated Books

[Trans] Demian – Chương VI (II)

6

Chương VI – Jacob Wrestling

Phần II.

Biên dịch: Gf93
Biên tập: An
Minh họa: High Blood


 

Điều tuyệt vời nhất mà tôi có được trong những tuần còn lại tại trường St.—— là những khi ở bên Pistorius bên cây đàn organ hay trước sự nhiệt thành của anh ấy. Chúng tôi đang nghiên cứu một bản văn viết bằng tiếng Hy Lạp về Abraxas và anh ta đọc cho tôi vài đoạn trích trong bản dịch Kinh Vệ Đà [45] và dạy tôi cách phát âm thánh ngữ “om”. Nhưng những thứ thần bí này không phải cái đã nuôi dưỡng tinh thần trong tôi. Thứ tiếp sinh lực cho tôi là quá trình tự khám phá chính bản thân mình, sự tự tin tăng dần qua mỗi giấc mơ, những suy tư, điềm báo và sự nâng tầm kiến thức về sức mạnh đang cuộn trào trong tôi.

Pistorius và tôi thấu hiểu nhau trên mọi phương diện. Tất cả những gì tôi cần làm là chỉ cần hình dung ra anh ta, và tôi có thế chắc chắn rằng anh ta – hay thông điệp anh ta muốn nhắn nhủ – sẽ tới bên tôi. Tôi có thể đòi hỏi anh bất cứ điều gì, như đã từng đòi hỏi Demian, mà anh ta không cần xuất hiện trước mắt tôi bằng xương bằng thịt, tôi chỉ cần tưởng tượng ra dáng hình anh ấy và hỏi trực tiếp bằng cách tập trung suy nghĩ. Và rồi tất thảy những nỗ lực thần giao cách cảm đưa câu hỏi đi sẽ trở về bên tôi nguyên dạng, mang theo câu trả lời. Chỉ có điều, hình ảnh mà tôi triệu hồi trong tâm trí và chất vấn không phải là hình hài của Pistorius hay Max Demian, mà là bức tranh tôi đã mơ về và vẽ nên, hình ảnh về một con quỷ nửa nam nửa nữ. Sinh vật đó đã không còn bị kìm hãm trong những giấc mơ của tôi, cũng không còn là hình hài trên giấy trắng nữa, giờ đây nó trú ngụ trong tôi như một bản thể sâu sắc và mẫu mực.

Giữa một kẻ có ý định tự sát như Knauer và tôi hình thành một mối quan hệ lạ kỳ, có khi là hài hước. Kể từ cái đêm tôi bị ma xui quỷ khiến tìm đến cậu ta, Knauer dính lấy tôi như một kẻ bề tôi tận tụy hay như một chú chó trung thành, cố hết sức để gắn chặt đời cậu ta vào đời tôi, và vâng lời tôi một cách mù quáng. Cậu ta đến gặp tôi mang theo hàng tá câu hỏi và yêu cầu lạ lùng, tỉ như muốn nhìn thấy những linh hồn, học về bí thuật và sẽ không tin khi tôi quả quyết rằng mình chẳng biết gì về những thứ đó. Cậu ta nghĩ sức mạnh của tôi là tối thượng. Nhưng lạ là cậu ta thường đến tìm tôi với một đống những câu hỏi ngu ngốc và hóc búa ngay khi tôi cũng đang vật lộn với những câu đố của chính mình, thế rồi những quan niệm và đòi hỏi kỳ quái của cậu ta đôi lúc lại mang đến cho tôi chìa khóa giải quyết mọi vấn đề. Thường thì khi cậu ta làm phiền, tôi sẽ cương quyết đuổi cậu ta đi, nhưng tôi cũng cảm thấy cậu ta chính là món quà được gửi đến, và cũng từ cậu ta mà tôi nhận được gấp đôi những điều tôi cho đi; cậu ấy cũng là người soi đường cho tôi – hay ít nhất cũng là người dẫn lối. Những cuốn sách và ghi chép thần bí cậu ta mang cho tôi xem, và trong đó cậu ta kiếm tìm sự cứu rỗi, đã dạy tôi nhiều điều hơn những gì tôi nhận thức được vào thời điểm đó.

Về sau Knauer lặng lẽ ra khỏi cuộc đời tôi. Chúng tôi chưa bao giờ xảy ra mâu thuẫn, chẳng có lý do gì để cãi nhau cả. Cậu ta không giống như với Pistorius, người mà tôi vẫn có thể cùng sẻ chia những trải nghiệm lạ kỳ cho đến những ngày tháng cuối cùng tại St. ——-.

Một hay vài lần trong cuộc sống, ngay cả những người vô hại nhất cũng không thể tránh khỏi mâu thuẫn với chính những phẩm hạnh và lòng biết ơn tốt đẹp. Sớm hay muộn mỗi chúng ta đều phải tự tách khỏi cha, khỏi những người thầy thông thái, mỗi chúng ta đều phải tự mình nếm qua những trải nghiệm cô đơn đến tuyệt vọng – dù cho phần lớn con người đều không thể chịu nổi điều ấy mà sớm lần hồi trở về đường cũ. Bản thân tôi không hề chật vật để tách mình ra khỏi cha mẹ và thế giới rực rỡ “chói lòa” của họ, tôi trở thành người lạ một cách thật từ từ và hầu như không thể nhận ra. Tôi cảm thấy buồn vì chuyện này bắt buộc phải diễn ra theo cách đó, và điều đó khiến tôi luôn không thoải mái trong những lần về thăm nhà, nhưng nó không ảnh hưởng quá mạnh mẽ đến tôi, tôi hoàn toàn có thể chịu đựng được.

Nhưng tại nơi ta thể hiện tình yêu và lòng thành kính bằng chính sự chân thành chứ không phải thói quen, nơi ta trở thành những môn đồ và bạn hữu vượt ra khỏi những nơi sâu kín nhất trong tim mình, thì thời khắc ta bỗng nhận ra rằng bản thể bên trong ta muốn kéo ta ra khỏi những gì thân thương nhất thật đắng cay và khủng khiếp. Rồi từng suy nghĩ chối bỏ bạn bè và thầy giáo biến thành cái gai độc ghim vào tim, và từng cú đánh hòng tự vệ bản thân lại làm đau chính mình, hai chữ “phản bội” và “vô ơn” giáng xuống kẻ nghĩ mình đức đạo vẹn toàn tựa như những tiếng nguýt dài hay dấu sắt nung tội lỗi, và con tim sợ hãi bèn rụt rè trốn đi, quay về náu mình trong tuổi thơ mê mị, không bao giờ tin vào sự nứt vỡ này đã thành sự thật, hay mối liên kết này bỗng chốc biến tan.

Theo thời gian, những cảm xúc trong tôi dần chống lại việc nhận thức một cách không kiêng dè rằng Pistorius là một người thầy. Tình bạn của tôi với anh ta, với những lời anh ta chỉ dạy hay sự thoải mái anh ta mang lại cho tôi, sự gần gũi của anh ta đã trở thành trải nghiệm cần thiết nhất trong suốt những tháng ngày quan trọng nhất của tuổi thanh niên của tôi. Chúa đã nói chuyện với tôi thông qua anh ta. Những giấc mơ của tôi đã được giải thích một cách rõ ràng rành mạch qua lời anh ấy. Anh cho tôi niềm tin vào chính bản thân mình. Và giờ tôi lại có ý muốn dần dần kháng cự lại anh ta. Những lời anh ta nói đầy tính giáo điều và tôi cảm thấy anh ta chỉ thấu hiểu một phần trong tôi mà thôi.

Giữa chúng tôi không xảy ra bất cứ cãi vã hay mâu thuẫn nào, không rạn nứt hay thậm chí là chuyện ăn miếng trả miếng. Tôi chỉ thốt ra một cụm từ vô hại, nhưng ngay vào thời khắc ấy ảo ảnh vội tiêu tan.

Một linh cảm mơ hồ về chuyện đó đôi khi đè nặng tôi quá đỗi, cảm giác đó trở nên rõ ràng vào một sáng Chủ nhật trong buổi học với anh ta. Chúng tôi nằm dài trước đống lửa khi anh ta lảm nhảm về những điều huyền bí và những dạng thức của tôn giáo mà anh ta được học, cũng như những khả năng trong tương lai khiến anh ta bận tâm.

Mọi thứ đều quá xa lạ và đậm tính triết học, không quan trọng với tôi, có vài điều phảng phất tính sư phạm, tựa như một nghiên cứu nhạt nhẽo trong tàn tích của thế giới trước kia. Và cùng một lúc, tôi thấy ác cảm với anh ta, vì sự sùng bái những thứ thần thoại này, vì trò chơi ghép hình bằng thứ đức tin thứ cấp của anh ta.

“Pistorius,” tôi bỗng cất lời mang theo chút độc ác khiến chính mình còn phải ngỡ ngàng và hoảng sợ. “Anh nên nói lại với tôi về những giấc mơ của anh đi chứ? Một giấc mơ thật sự mà anh mơ vào ban đêm ấy. Những điều anh đang nói với tôi trước giờ đều quá – quá cổ lỗ rồi.”

Anh ta chưa bao giờ nghe tôi nói những lời như vậy trước đây, và cùng lúc đó tôi cũng nhận ra nỗi xấu hổ và kinh hãi xẹt ngang qua, khi mũi tên tôi vừa bắn đã xuyên thủng trái tim anh ta lại đến từ chính những điều anh ta tự hào: tôi giờ đang lao mình vào những phê phán mà đôi lúc chính anh ta dùng để chỉ trích và gần như mỉa mai bản thân mình.

Pistorius lập tức chìm vào im lặng. Tôi sợ hãi nhìn anh ta dần trở nên tái nhợt.

Sau một lúc lâu, anh ta đặt củi mới vào trong đống lửa và nói với tôi bằng thứ giọng khe khẽ:

“Cậu nói đúng, Sinclair, cậu là một đứa thông minh. Từ giờ trở đi tôi sẽ chỉ dành cho cậu những thứ cũ kỹ đó.”

Anh ta nói một cách bình tĩnh, nhưng rõ ràng anh ấy đã tổn thương. Tôi đã làm cái quái gì vậy chứ?

Tôi muốn nói gì đó động viên anh ta, nài xin anh ta tha thứ, cam đoan rằng tình yêu và sự kính trọng sâu sắc của tôi đối anh là thật. Những từ ngữ cảm động cứ thế ùa vào tâm trí tôi, nhưng tôi lại chẳng thể cất lời. Tôi chỉ nằm đó nhìn mãi vào ngọn lửa và lặng im. Anh ấy cũng vậy, yên tĩnh và rồi chúng tôi tiếp tục nằm đó cho đến khi ngọn lửa lụi dần, và với mỗi tàn lửa tôi lại cảm thấy điều gì đó thật đẹp tuyệt vời,

“Tôi nghĩ là anh có chút hiểu lầm tôi rồi,” cuối cùng tôi cũng nói ra được bằng cái giọng nhanh và gượng ép. Những từ ngu ngốc vô nghĩa tiếp tục được tôi nhả ra một cách máy móc như thể tôi đang đọc từ một tạp chí vậy.

“Tôi hiểu,” Pistorius nhẹ nhàng nói. “Cậu nói đúng.”

Tôi đợi. Rồi anh ta chậm rãi tiếp tục:

“Vì luôn sẽ phải có một người đúng.”

Không, không! Tôi sai rồi, một giọng nói gào thét bên trong tôi, nhưng tôi lại không thể nói gì. Tôi biết với vốn từ hạn hẹp của mình, tôi đã động đến nơi yếu đuối nhất, đến nỗi đau buồn và vết thương của anh ấy. Tôi đã lỡ chạm vào phần cảm xúc mà bản thân anh ấy cảm thấy hồ nghi nhất. Anh là người theo lý tưởng “cổ xưa”, luôn tìm kiếm nó trong quá khứ và đắm trong mộng mơ. Và bỗng nhiên trong thâm tâm tôi nhận ra: những gì Pistorius cho tôi chính xác là những gì anh ta không thể cho chính bản thân mình. Anh ta hướng tôi đi trên con đường mà tôi có thể vượt qua, thậm chí bỏ anh ta, người dẫn đường, lại phía sau.

Chúa mới biết tại sao một người có thể nói những điều như vậy. Tôi không hề có ác ý, không hề có chút ý niệm nào về việc tôi có thể gây tổn thương cho anh ấy. Tôi đã nói ra mà không lường được hậu quả. Tôi đã thành nạn nhân của một cơn bốc đồng yếu đuối, phần nào hóm hỉnh nhưng vô cùng ác độc và điều đó đã trở thành số mệnh. Tôi đã gây ra một hành động độc ác, tầm thường và thiếu thận trọng mà anh ấy cho rằng đó là sự trừng phạt.

Tôi mong anh ấy sẽ phát điên lên, tự bào chữa cho bản thân và nhiếc móc tôi biết bao nhiêu. Nhưng anh chẳng làm gì như thế cả, thế nên tôi sẽ là người tự làm chuyện đó. Nếu có thể thì anh ấy đã cười, nhưng anh ấy không thể vì sự thật là tôi đã làm tổn thương đến anh quá sâu sắc rồi.

Bằng việc chấp nhận cú đòn này một cách lặng lẽ, từ tôi – người học trò hỗn xược và vô ơn của anh ấy, bằng việc giữ im lặng và thừa nhận rằng tôi đã đúng, và bằng việc công nhận những lời tôi nói là định mệnh, anh ấy khiến tôi chán ghét bản thân mình đến tận họng và thậm chí còn khiến sự vô lý của tôi tăng thêm nhiều lần. Khi dùng những lời lẽ đó, tôi đã nghĩ mình sẽ ra đòn với một người cứng rắn và được trang bị kỹ càng, nhưng anh ấy lại im lặng, bị động, không hề chống trả, như một người chấp nhận đầu hàng mà không phản kháng.

Trong suốt khoảng thời gian chúng tôi ngồi trước đống lửa tàn, nhìn những hình bóng lập lòe sáng lên, mỗi một cành củi quằn quại lụi tàn lại nhắc tôi về những khoảng thời gian hạnh phúc của hai người, lại càng gia tăng mặc cảm tội lỗi của tôi về sự vô ơn với Pistorius. Cuối cùng, tôi đã không thể chịu đựng thêm nữa, tôi đứng dậy và rời đi. Tôi đứng chết lặng một lúc lâu trước cửa phòng anh ấy, lại một lúc lâu nơi cầu thang tối tăm, và còn lâu hơn ngoài cửa chỉ để chờ một dấu hiệu rằng anh ấy sẽ đi theo tôi. Và rồi tôi đi, đi hàng giờ trong thị trấn, nơi ngoại ô, công viên và rừng cây, cho đến tận tối muộn. Trong suốt quãng đường ấy, lần đầu tiên tôi cảm nhận được dấu ấn của Cain đang in hằn trên trán.

Dần dần tôi cũng nghĩ thoáng hơn về những điều đã xảy ra. Đầu tiên, trong đầu tôi ngập tràn ân hận, và biện hộ cho Pistorius. Nhưng tất cả đều đi ngược lại mong muốn của tôi. Hàng ngàn lần tôi đã hối hận và muốn rút lại những câu nói hấp tấp của mình, nhưng nó đã lỡ trở thành sự thật. Đến giờ tôi mới hiểu hết về Pistorius và dựng nên được toàn mộ giấc mơ của anh ta. Giấc mơ này đã có thể trở thành một người thầy tế, để tuyên thệ về một tín ngưỡng hoàn toàn mới, để giới thiệu ra một dạng thức mới để người ta tán tụng, yêu thương, tôn thờ, để dựng nên một biểu tượng hoàn toàn mới. Nhưng đó không phải sức mạnh hay chức năng của anh ta. Anh ta chần chừ quá lâu trong quá khứ, kiến thức về quá khứ ấy chính xác, anh ta biết quá nhiều về Ai Cập và Ấn độ, Ba Tư và Abraxas. Tình yêu của anh gắn liền với những hình ảnh về thế giới thuở sơ khai, thế nhưng tận sâu trong tim mình, anh ta nhận ra rằng Thế giới Mới phải hoàn toàn tân tiến và khác biệt, rằng nó phải giống như mầm non đâm chồi từ đất xốp và không phải thứ lấy ra từ bảo tàng hay thư viện. Nhiệm vụ của anh ta có lẽ là dẫn đường cho người ta về với bản ngã của chính họ như anh đã từng dẫn dắt tôi, còn việc nói cho họ nghe về những vị thần mới chưa từng nghe tên, thì không phải việc của anh ta.

Tại thời điểm đó, tôi bỗng nhận thức mãnh liệt rằng: mỗi người đều có “chức năng” của riêng mình nhưng không ai được quyền tự lựa chọn, xác định hay thực hiện như anh ta mong muốn. Việc khát cầu những vị thần thánh mới là sai lầm, mong muốn mang đến thế giới này điều gì đó là hoàn toàn sai lầm. Một người được giác ngộ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất – tìm ra con đường cho chính anh ta, tìm ra được bản ngã trong sâu thẳm chính mình, để mò mẫm ra con đường về phía trước, dù cho nó có dẫn đến đâu chăng nữa. Sự nhận thức này khiến tôi rung động sâu sắc, nó như là thành quả thu được từ trải nghiệm này. Tôi thường tự biên ra những hình ảnh về tương lai, mơ tới những nhiệm vụ tôi được chỉ định, có lẽ giống như một nhà thơ, nhà tiên tri, một họa sĩ, hay cái gì tương tự.

Tất cả đều vô ích, tôi không tồn tại để viết thơ, để thuyết giáo hay vẽ vời, chẳng một ai được như thế cả. Tất cả đều chỉ là tình cờ mà thôi. Mỗi người đều chỉ có một thiên chức duy nhất – đó là tìm ra con đường cho chính mình mà thôi. Anh ta cuối cùng có lẽ sẽ trở thành nhà thơ hay kẻ điên, nhà tiên tri hay tội phạm – điều đó chẳng phải là vấn đề, cho đến cùng cũng chẳng phải. Nhiệm vụ của anh ta là phải khám phá ra số mệnh của chính mình – thứ mà không thể tùy ý quyết định – và sống hết mình với số mệnh đặt ra và cương quyết với bản thân. Mọi thứ khác chỉ là phù du, hay một lý do để trốn tránh, để tìm về những lý tưởng của số đông, sự thuần phục và sợ hãi bản ngã bên trong mỗi người. Ảo cảnh mới mẻ hiện lên trước mắt tôi, lướt qua hàng trăm lần, thậm chí có thể đã từng xảy ra trước đó nhưng giờ tôi mới được trải nghiệm lần đầu tiên. Tôi chỉ là một vật thử nghiệm của Tạo hóa, một canh bạc may rủi trong sự vô thường, có lẽ vì một mục đích nào đó, cũng có thể chẳng vì gì cả, và sứ mệnh duy nhất của tôi là phó mặc cho canh bạc của những bản năng sơ khai diễn ra, cảm nhận ý chí của nó ở trong tôi, và biến canh bạc ấy thành của tôi. Hoặc là như vậy, hoặc là không gì cả.

Tôi vốn đã cảm thấy đủ cô đơn, giờ còn cô đơn hơn nhiều lần nữa, mà tôi lại chẳng thể thoát ra.

Tôi không hề có ý định giảng hòa với Pistorius. Chúng tôi vẫn là bạn nhưng mối quan hệ đã thay đổi. Tuy nhiên vẫn có đôi điều mà chúng tôi vẫn cùng nói được với nhau, thực ra là chỉ mình Pistorius đang cố gắng nhắc đến mà thôi. Anh ấy nói:

“Cậu biết là tôi muốn trở thành một mục sư. Hơn tất thảy tôi muốn trở thành một tư tế của một tôn giáo mới, mà cả tôi và cậu đều đã có rất nhiều điềm báo. Vị trí đó sẽ không bao giờ thuộc về tôi – tôi nhận ra điều đó, và dù cho tôi có không chấp nhận hoàn toàn, thì có đôi khi tôi cũng nhận biết được. Vì thế thay vào đó tôi sẽ thực hiện chức trách của một mục sư, có thể bên cây đàn, có thể bằng cách khác. Nhưng tôi luôn phải đảm bảo mọi thứ xung quanh tôi đều đẹp đẽ và thuộc về thánh thần, tiếng nhạc và những điều bí ẩn, những biểu tượng và những chuyện thần thoại hoang đường. Tôi cần và tôi không thể bỏ những điều đó được. Đó chính là điểm yếu của tôi. Có đôi khi, Sinclair ạ, tôi biết rằng mình không nên có những mong ước như thế, rằng chúng là sự mềm yếu lại còn xa xỉ. Chỉ khi tôi không dè dặt mà đặt mình vào sự xếp đặt của số mệnh, đó mới là cao thượng. Nhưng tôi không làm thế được, tôi không đủ khả năng. Có lẽ một ngày nào đó cậu sẽ là người làm được điều đó. Nó khó, nhưng đó là điều duy nhất thực sự khó khăn. Tôi luôn mơ được làm điều đó, nhưng tôi không thể. Những ý nghĩ khiến tôi khiếp sợ: tôi không đủ khả năng để đơn độc và trần trụi phơi mình. Tôi cũng chỉ là một sinh vật yếu hèn, tha thiết hơi ấm và thức ăn và đôi khi cả nguồn an ủi mà tình người mang lại. Có một người chẳng truy cầu điều gì nhưng số mệnh của anh ta định rằng anh ta chẳng có lấy một người bầu bạn, anh ta sống một mình và bao quanh anh ta là một không gian lạnh lẽo. Đó là Chúa Jesus nơi Vườn Cây Dầu [46], cậu biết mà. Đã có những kẻ tử vì đạo sẵn sàng để bản thân mình bị ghim trên thập giá, nhưng kể cả những người đó thì cũng chẳng phải anh hùng, chẳng hề tự do, vì dù cho họ có ham muốn cái mà họ yêu thương và quen thuộc, thì họ vẫn có những hình mẫu và lý tưởng của riêng mình. Nhưng người mà chỉ đi tìm định mệnh của anh ta sẽ chẳng có một hình mẫu hay lý tưởng nào cả, sẽ chẳng yêu thương và điều gì vỗ về hết! Và thực ra đó chính là con đường mà một người nên theo đuổi. Người như tôi và cậu thực ra khá cô đơn, nhưng chúng ta vẫn có nhau, chúng ta có được sự thỏa mãn bí mật vì chúng ta khác biệt, cứng đầu và ham muốn thứ gì đó phi thường. Nhưng cậu cũng phải thể hiện nó ra cơ, nếu cậu muốn đi hết đến tận cùng con đường. Cậu không thể biến bản thân trở thành một nhà cách mạng, hay ví dụ như một kẻ tử vì đạo. Điều đó là ảo tưởng –“

Phải, là ảo tưởng. Nhưng tôi có thể mơ, mong chờ và cảm nhận thấy. Có đôi lần tôi còn mường tượng ra được – trong một giờ đồng hồ chỉ có sự tĩnh lặng tuyệt đối. Rồi tôi sẽ nhìn thẳng vào bản thân và đối diện với định mệnh của chính mình. Đôi mắt của nó sẽ đầy sự thông thái, cũng ngập sự điên cuồng, chúng sẽ tỏa ra tình yêu hay sự hiểm độc sâu xa, như nhau cả. Bạn không được phép lựa chọn hay truy cầu bất kỳ điều gì trong số đó. Bạn chỉ được phép ham muốn chính mình, chính định mệnh của mình mà thôi. Cho đến điểm này, Pistorius vẫn là người dẫn đường cho tôi.

Trong những ngày đó tôi dạo bước như một kẻ mù lòa. Tôi cảm thấy phát điên – mỗi bước chân đều mang theo nguy hiểm xa lạ.  Tôi chẳng nhìn thấy gì trước mắt ngoài bóng tối sâu thẳm, nơi mọi con đường tôi đi cho đến giờ đều hướng đến và biến mất. Và tôi thấy trong tôi hình hài của một bậc thầy, giống như Demian, và trong đôi mắt người đó, số mệnh của tôi đã được viết nên.

Tôi viết lên một mảnh giấy: “Một người dẫn dắt đã rời bỏ tôi, tôi bị bao vây trong bóng tối. Tôi chẳng thể bước tiếp một mình. Hãy cứu tôi.”

Tôi muốn gửi cho Demian, nhưng tôi đã không làm vậy. Mỗi lần tôi định làm điều đó, tôi lại thấy nó ngớ ngẩn và vô vị biết bao nhiêu. Nhưng tôi thuộc nằm lòng lời nguyện cầu bé nhỏ ấy, và thường tự nói lại với chính mình. Nó theo tôi từng phút từng giờ và dần dần tôi bắt đầu thấu hiểu nó.

Những tháng ngày đi học của tôi đã kết thúc. Theo lời cha, tôi đã có một chuyến đi trong kỳ nghỉ trước khi vào đại học. Nhưng tôi cũng chẳng biết tôi sẽ học ngành nào. Nhưng chắc chắn tôi sẽ học một kỳ về triết học. Còn lại thì môn nào cũng không quan trọng.


*Chú thích

[45]

“OM” (còn gọi là “AUM”) có thể coi là âm thanh gốc của vũ trụ hay âm thanh của tự nhiên từ năng lượng, sự rung động hình thành, là âm thanh đầu tiên mà các sinh vật sống giao tiếp với nhau, giao tiếp với thiên nhiên tạo nên sự kích hoạt về thể chất, tinh thần và tâm linh cho cơ thể.

Các sinh vật sống từ thời sơ khai đã sử dụng âm thanh A…UM ngân dài theo cách thể hiện của giống loài bằng tiếng hú, tiếng gầm, rú, tru… để gọi bầy đàn, thể hiện sức mạnh, khẳng định lãnh địa hay buồn bã, đau đớn và cô độc. Âm thanh AUM không chỉ tồn tại trong những động vật hoang dã hay bậc thấp mà còn luôn tồn tại trong con người, một dạng tiến hóa cao cấp, từ nhỏ khi chưa biết nói, đứa trẻ a…um khi hóng chuyện, khi bị đau hay bối rối con người ta vẫn luôn phát ra âm thanh AUM một cách vô thức bằng tiếng rên la – Một cách tự nhiên giúp giải phóng sự đau đớn hay “ậm…ừ” để tập trung trí não tốt hơn, để lựa chọn câu từ tiếp theo cho đúng.

[46] Vườn Cây Dầu: Vườn Gethsemani hay Vườn Cây Dầu, Vườn Nhiệt là một vườn dưới chân núi Olives ở Jerusalem, nổi tiếng vì là nơi Chúa Giêsu và các tông đồ đã cầu nguyện trong đêm trước khi Ngài bị bắt đem đi đóng đinh vào thập giá.Jerusalem_Gethsemane_tango7174.jpg

Các nguồn tài liệu chú thích:
https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%E1%BB%9Dn_Gethsemani
https://dotapyogatot.com/khuyen-mai/om-hay-aum-am-thanh-dau-tien-cua-cuoc-song.html


Hết Chương VI.

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT THUỘC SỞ HỮU CỦA THE LITTLE GROUND-FLOOR.
XIN KHÔNG REPOST TẠI NƠI KHÁC HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI.

Advertisements

6 thoughts on “[Trans] Demian – Chương VI (II)

  1. Đây là câu chuyện có ý nghĩa nhất mà mình từng xem, cảm ơn bạn dịch rất nhiều vì đã bỏ công sức để dịch! Cảm ơn bạn.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s