Translated Books

[Trans] Demian – Chương V (II)

5

Chương V – “Chim non phá vỏ chào đời”

Phần II.

Biên dịch: Gf93

Biên tập: An
Minh họa: High Blood


Người nhạc công đánh mắt xung quanh như thể sợ ai đang nhìn trộm. Rồi anh ta lại gần tôi và thì thầm:

“Đó chính là những gì tôi nghĩ. Cậu là ai?”

“Một sinh viên ở trường dự bị.”

“Sao cậu lại biết về Abraxas?”

“Tình cờ thôi.”

Anh ta đập bàn khiến cho rượu sánh cả ra ngoài.

“Tình cờ ấy hả? Đừng có nói vớ vẩn, anh bạn trẻ! Một người không thể tình cờ nghe về Abraxas được, và đừng quên, tôi sẽ kể cho cậu nghe thêm về ngài. Tôi có biết chút chút đấy.”

Anh ta im lặng và đẩy chiếc ghế về vị trí cũ. Khi tôi nhìn anh ta bằng ánh mắt đầy mong chờ, anh ta làm mặt: “Không phải ở đây. Để khi khác. Đây, cầm lấy đi.”

Anh ta kéo áo khoác vẫn đang mặc trên người, lấy ra một ít hạt dẻ nướng và ném về phía tôi. Tôi không nói gì liền bắt lấy, ăn và cảm nhận hương vị của nó.

“Được rồi,” sau một lúc anh ta lại thì thầm. “Cậu tìm thấy thông tin về Ngài ở đâu?”

Tôi đã không đắn đo mà kể cho anh ta.

“Tôi đã có một thời gian cô đơn và tuyệt vọng,” tôi bắt đầu. “Rồi tôi nhớ đến một người bạn tôi có vài năm trước, người mà theo tôi nghĩ là thông tuệ hơn tôi rất nhiều. Tôi đã vẽ một bức tranh, về một con chim đang cố vùng vẫy thoát khỏi một quả cầu. Tôi gửi nó cho anh ấy. Sau một thời gian tôi đã tìm thấy một mảnh giấy có ghi dòng chữ: “Chim non cựa mình tìm cách phá vỏ chào đời. Vỏ kia là cả thế giới của chim non. Kẻ nào muốn tái sinh, trước tiên phải hủy diệt thế giới. Chim kia tìm về với Chúa, về với vị Thánh có tên Abraxas.””

Anh ta không nói gì. Chúng tôi bóc vỏ hạt dẻ rồi uống rượu.

“Một ly nữa nhé?” Anh ta hỏi.

“Không cảm ơn. Tôi không thích uống cho lắm.”

Anh ta cười, kèm theo chút thất vọng.

“Được rồi. Chuyện của tôi thì khác. Tôi sẽ ở đây nhưng nếu cậu muốn rời đi thì tùy.”

Lần tiếp theo chúng tôi gặp nhau, sau khi anh ta chơi đàn xong, anh ta có vẻ không nói nhiều như trước nữa. Anh ta dẫn tôi qua một con ngõ nhỏ, đi vào một ngôi nhà cũ kỹ và tới một căn phòng lớn nhưng có phần tối tăm hoang hoải. Ngoài cây đàn piano, chẳng có gì trong căn phòng cho thấy anh ta là một nhạc công, nhưng giá sách đồ sộ đã khiến căn phòng trở nên sặc mùi học giả.

“Anh có nhiều sách quá!” Tôi thốt lên.

“Một phần thuộc về thư viện của cha tôi – tôi sống cùng nhà với ông ấy. Được rồi, chàng trai trẻ. Tôi sống cùng cha mẹ nhưng tôi không thể giới thiệu cậu với họ được. Người lạ không được chào đón cho lắm trong căn nhà này. Tôi là một đứa lạc loài. Cha tôi là một mục sư đức cao vọng trọng và thường thuyết giảng trong thị trấn. Còn tôi, nói ra để cho cậu nhìn thấy ngay vấn đề, là đứa con trai tài năng đầy hứa hẹn của ông ấy, một kẻ lầm đường lạc lối, và về mặt nào đó, đã phát điên. Tôi đã từng một sinh viên theo học thần thọc, nhưng không lâu trước bài kiểm tra, tôi đã bỏ học tại cái khoa vô cùng đáng kính này; Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi đã từ bỏ ngành này hoàn toàn, bởi đối với cá nhân tôi mà nói, tôi vẫn mong muốn tìm hiểu con người ta đã dựng nên loại thần thánh gì cho họ. Hơn nữa, hiện tại tôi còn là một nhạc công và có vẻ như tôi sẽ nhận được lời đề nghị nhỏ nào đó với tư cách người đánh đàn. Sau đó tôi sẽ trở lại làm việc cho nhà thờ.”

Ánh đèn bàn leo lắt tỏa ra những tia sáng yếu ớt, tôi nương vào đó mà nhìn một loạt sách trên giá, tôi chú ý đến những tựa sách viết bằng tiếng Hy Lạp, Latinh và Do thái cổ trong khi người nhạc công kia đã nằm xuống sàn nhà để làm gì đó.

“Nằm xuống đây,” sau một lúc thì anh ta gọi. “chúng ta sẽ luyện tập một ít học thuyết Triết học. Điều đó nghĩa là ngậm miệng lại, nằm sấp xuống và ngẫm nghĩ.”

Anh ta quẹt một que diêm để đốt giấy và củi trong lò rồi vươn vai. Ngọn lửa bốc cao, anh ta cời mồi lửa và chăm chút nó thật cẩn thận. Tôi nằm xuống bên cạnh anh ta trên chiếc thảm cũ mòn. Chúng tôi đã im lặng nằm sấp cả giờ đồng hồ trước ánh lửa lung linh, ngắm nhìn những ngọn lửa bốc lên thét gào rồi chìm xuống lặp đi lặp lại, bập bùng rồi lại co cụm, và cuối cùng nhẹ nhàng lụi tắt chỉ còn lại chút tàn tro.

“Sự sùng bái lửa là thứ ngu ngốc nhất người ta từng nghĩ ra,” có lúc anh ta lại tự lẩm bẩm. Còn không thì chẳng ai trong chúng tôi nói lời nào. Tôi nhìn chằm chằm vào đống lửa, để bản thân lạc vào những giấc mơ và sự tịch mịch, nhận ra những hình hài nhảy múa trong màn khói và những bức tranh trong đám tro tàn. Bỗng tôi giật mình, người kia ném một miếng nhựa cây vào đám lửa, một ngọn lửa mảnh mai bốc lên và tôi nhận ra con chim ưng đầu vàng. Từ đám tro đang lụi dần, những đường sáng đỏ vàng le lói đan thành lưới, những con chữ, ký ức về những khuôn mặt, con vật, cây cối, sâu trùng và rắn dần hiện ra. Thoát khỏi mơ màng, tôi nhìn vào người bên cạnh, tay anh ta đang đưa lên cằm, ánh nhìn say mê hướng về đám tàn tro với sự quy thuận hoàn toàn.

“Tôi phải đi rồi.” Tôi nói nhỏ.

“Đi đi. Tạm biệt.”

Anh ta không ngồi dậy. Đèn đã tắt, tôi mò mẫm tìm đường ra khỏi căn phòng tối và hành lang của ngôi nhà u mê cũ kỹ. Ra đến ngoài, tôi ngừng lại và nhìn một lượt mặt tiền. Các ô cửa sổ đều tối đen như mực. Ánh đèn đường hắt vào một mảnh đồng nhỏ treo nơi cửa trước, trên đó có ghi: “Mục sư nhất đẳng, Pistorius.”

Cho đến khi tôi về nhà và ngồi trong căn phòng nhỏ sau bữa đêm, tôi mới nhận ra mình chưa được nghe điều gì liên quan đến Abraxas hay Pistorius – chúng tôi đã nói với nhau không nổi vài từ. Nhưng tôi vẫn rất thỏa mãn với chuyến viếng thăm này. Và anh ta đã hứa sẽ chơi một bản nhạc cũ nhẹ nhàng vào lần gặp tiếp theo của chúng tôi, một điệu nhạc của Buxtehude [39].

Và khi tôi không hề để ý, nhạc công Pistorius đã tặng cho tôi bài học đầu tiên khi chúng tôi nằm trên sàn trước đống lửa trong căn phòng khổ hạnh u buồn của anh ta. Nhìn chăm chú vào ngọn lửa như thuốc dành cho tôi, đó là những khuynh hướng luôn tồn tại trong tôi nhưng chưa bao giờ được nuôi dưỡng. Và dần dần tôi đã lĩnh hội được một vài trong số đó.

Dù khi còn bé tôi có thói quen nhìn chằm chằm vào những hiện tượng tự nhiên kỳ lạ, không hẳn là quan sát chúng theo kiểu quy phục phép màu của chúng, sự mơ hồ hay ngôn ngữ nào sâu xa. Những mảnh rễ cây dài, những hòn đá khoác trên mình ngàn đường vân đầy màu sắc, những mảng dầu loang trên mặt nước, sự khúc xạ ánh sáng ở những mảnh thủy tinh – tất cả những thứ này đều mang cho tôi một cảm giác diệu kỳ: đặc biệt là nước và lửa, khói, những cuộn mây, và bụi, nhưng phần lớn tất cả những vòng xoáy sắc màu đều tụ lại trước mắt tôi ngay khi tôi nhắm lại. Tôi bắt đầu nhớ về những điều này sau chuyến viếng thăm tới nhà Pistorius, bởi tôi cảm nhận được một sức mạnh và sự hân hoan và sự tự nhận thức bản thân mình một cách mãnh liệt từ buổi tối hôm ấy. Nhờ vào việc tiếp tục nhìn vào đống lửa, tôi thật sự thấy vô cùng thoải mái và mang theo cả cảm giác tưởng thưởng.

Tôi đã thêm điều này vào một trong số những trải nghiệm ít ỏi giúp mình trên con đường tìm kiếm mục tiêu đích thực của cuộc đời: việc quan sát những hình thể này. Sự quy phục những điều phi lý, kỳ lạ và mơ hồ của tự nhiên tạo ra trong chúng ta một cảm giác sự hài hòa nội tại cùng với sức mạnh tạo ra những hiện tượng thiên nhiên này. Chúng ta sẽ sớm trở thành nạn nhân của sự cám dỗ, coi chúng như tâm trạng của chính mình, như những sáng tạo của riêng ta, và nhìn những lằn ranh chia cách ta khỏi mẹ thiên nhiên rung lên rồi tan biến. Chúng ta sẽ trở nên quen thuộc với việc không thể quyết định liệu những hình ảnh phản chiếu qua võng mạc là do cảm giác đến từ bên ngoài hay bên trong. Không nơi đâu như trong cái lối suy nghĩ này, chúng ta có thể tìm tòi phạm vi sáng tạo, hay biết rõ tâm hồn ta có thể tham gia vào sự kiến tạo bền vững của thế giới sâu sắc đến đâu, một cách dễ dàng hơn và giản đơn hơn. Bởi lẽ chỉ có một vị thánh thần đồng nhất hiện hữu trong chúng ta và mẹ Thiên nhiên, và nếu thế giới ngoài kia bị hủy diệt, thì mỗi chúng ta sẽ phải đủ khả năng xây dựng lại: núi và sông, cây và lá, rễ và hoa, phải, từng tạo vật thuộc về thiên nhiên đều đang âm ỉ bên trong chúng ta, hình thành trong tâm hồn bất diệt, khi mà ta không thể biết rõ bản chất nhưng lại nhận thức được thông qua sức mạnh của tình yêu và sáng tạo mà nó biểu hiện ra.

Tôi xác nhận được những quan sát của mình chỉ vài năm sau đó, trong một cuốn sách của Leonardo da Vinci, người đã có lần miêu tả việc nhìn vào một bức tường mà rất nhiều người khạc nhổ vào đó thú vị cực độ đến thế nào. Khi đối diện với từng vết ố bẩn trên bức tường ẩm ướt, ông ta hẳn sẽ có cảm giác giống với Pistorius và tôi trước ngọn lửa kia.

Trong lần gặp tiếp theo, người nhạc công ấy giải thích cho tôi rằng:

“Quan niệm của chúng ta về giới hạn của bản thân luôn quá hạn hẹp. Nói chung là chúng ta chỉ chấp nhận một phần bản ngã, phần mà chúng ta coi như nét riêng của cá nhân hay là sự khác biệt so với những quy chuẩn thông thường. Nhưng ta lại được tạo nên bằng mọi thứ mà thế giới này chứa đựng, từng người chúng ta, và vì như cơ thể chúng ta mang theo phả hệ của quá trình tiến hóa từ loài cá hay thậm chí những loài cổ xưa hơn nữa, chúng ta phải nhớ kỹ rằng tất cả những gì trong tâm hồn ta đều từng hiện hữu trong tâm hồn của con người. Mỗi một vị thánh hay một con quỷ từng tồn tại, dù là người Hy Lạp, người Trung Quốc hay người Zulu [40], đều ngự ở bên trong chúng ta, manh nha những nguy cơ tiềm tàng, như những điều ước, hay như những lựa chọn khác nhau. Nếu loài người biến mất khỏi bề mặt trái đất chỉ để lại một đứa trẻ tài năng nhưng lại không được giáo dục chính quy tử tế, đứa trẻ ấy cũng sẽ một lần nữa phát hiện ra toàn bộ quá trình tiến hóa, và rồi những vị Thánh, những ác ma, những thiên đường, những lời răn, thậm chí cả kinh Cựu ước và Tân ước cũng sẽ một lần nữa ra đời.”

“Phải, sao cũng được,” Tôi đáp lại. “Nhưng giá trị của một con người trong trường hợp đó là gì? Tại sao ta cứ luôn cố đấu tranh không ngừng trong khi mọi thứ đều đã hoàn chỉnh vẹn toàn bên trong mỗi người?”

“Dừng!” Pistorius la lên. “Có một điểm khác biệt rất lớn giữa việc chỉ mang theo thế giới nội tại và việc nhận thức được nó. Một kẻ điên có thể nảy ra những ý tưởng khiến cậu nhớ đến Plato, và một sinh viên lễ độ theo trường dòng cân nhắc lại sự tương quan mang tính thần thoại sâu sắc trong số những tín đồ của Hiên giáo [41]. Nhưng anh ta lại không hề nhận thức được chúng. Chừng nào chưa nhận ra, anh ta sẽ chỉ mãi là cái cây hay hòn đá, hoặc hơn cả thì cũng chỉ là một con vật. Nhưng ngay khi tia sáng đầu tiên của bình minh giác ngộ gõ cửa trong tâm, anh ta hoàn chỉnh là một con người. Cậu không thể coi tất cả những sinh vật hai chân mà cậu gặp trên phố là con người chỉ bởi vì chúng có thể đi thẳng lưng và mang thai chín tháng! Trong số đó có bao nhiêu là cá hay là cừu, bao nhiêu là sâu bọ hay thiên sứ, bao nhiêu là kiến, bao nhiêu là ong, điều đó quá rõ ràng! Những kẻ ấy đều có thể trở thành người, nhưng chỉ khi nhận thức được khả năng đó mà thôi, thậm chí có thể học để khiến bản thân nhận thức được những điều này, nhưng khả năng đó chỉ tồn tại khi anh ta thực sự lưu tâm.”

Đó là ý nghĩa của những cuộc nói chuyện giữa chúng tôi. Tôi không phải đối diễn với bất cứ thứ gì hoàn toàn mới, hay quá bất ngờ. Nhưng mọi thứ, dù là những sự việc bình thường nhất cũng đều giống với những cú đập búa nhẹ nhàng liên tục vào cùng một chỗ trong tôi, tất cả những việc đó giúp chính tôi thành hình nên dạng, tất cả đều bóc trần từng lớp da thịt, phá vỡ vỏ trứng, và sau mỗi cú đánh tôi lại ngẩng cao đầu hơn một chút, tự do hơn một chút, cho đến khi con chim vàng của tôi ló đầu ra khỏi lớp vỏ của quả cầu thế gian.

Thường thì chúng tôi cũng nói về cả những giấc mơ của mỗi người. Pistorius biết cách diễn giải chúng ra như thế nào. Tôi chợt nghĩ đến một ví dụ. Tôi đã mơ rằng mình có thể bay, nhưng lại bay bằng cách phóng thẳng vào không trung để rồi không thể điều khiển được nữa. Cảm giác được bay khiến tim tôi hồ hởi, nhưng sự vui vẻ ấy lại mau chóng biến thành nỗi sợ hãi khôn cùng khi tôi nhận ra bản thân càng ngày càng bay cao, cao mãi, và trở nên ngày một bất lực. Ngay lúc đó tôi đã khám phá ra rằng tôi có thể điều chỉnh việc bay lên hoặc bay xuống bằng cách điều hòa hơi thở.

Và Pistorius nói thế này:

“Sức đẩy giúp cậu bay là một vật sở hữu vĩ đại của con người. Ai cũng có khả năng đó. Đó là cảm giác được kết nối với nguồn gốc của sức mạnh, nhưng người ta cũng sẽ sớm thấy sợ hãi cái cảm giác này. Vì nó quá nguy hiểm! Đó là lý do tại sao phần lớn con người đều lột bỏ đôi cánh để chọn cách bước đi và tuân theo luật lệ. Nhưng cậu thì khác. Cậu sẽ tiếp tục bay. Và nhìn xem! Cậu đã phát hiện ra rằng cậu có thể dần dần điều khiển được đường bay của mình, rằng trong cái sức mạnh lớn lao kéo cậu vút lên cao, còn lẩn khuất một sức mạnh nhỏ bé mà tinh tế của chính cậu, một cơ quan, một thiết bị định hướng. Tuyệt quá phải không! Nếu không có nó, cậu sẽ bị nhấc lên cao trong khi bản thân vô phương điều khiển – chính là điều sẽ xảy ra với những kẻ điên rồ. Họ có được sự nhận thức sâu sắc hơn những kẻ chôn chân mình dưới mặt đất, nhưng lại chẳng có chìa khóa và kỹ thuật định hướng rồi biến mất trong cõi vô cùng. Nhưng còn cậu, Sinclair, cậu sẽ đi đúng hướng. Như thế nào ư? Cậu hẳn không biết. Cậu đang đạt được điều đó bằng một cơ quan mới, bằng một thứ có thể điều khiển hơi thở của cậu. Và giờ cậu sẽ nhận ra tâm hồn mình nhỏ bé vị kỷ đến nhường nào khi chạm tới nơi sâu thẳm nhất. Vì nó không phát minh ra cách để điều chỉnh hơi thở này! Nó không hề mới! Cậu đã vay mượn nó: nó đã tồn tại cả ngàn năm rồi. Đó là bộ phận giúp loài cá giữ được sự cân bằng – là bong bóng cá. Và trong số lũ cá sẽ vẫn có một vài loài viễn cổ kỳ lạ khi mà bong bóng khí của chúng lại thực hiện chức năng như phổi và có thể sử dụng như một cơ quan điều hòa hô hấp. Nói cách khác, cậu đã sử dụng chính phổi của mình để bay lượn trong mơ.”

Anh ta thậm chí còn mua một cuốn sách về động vật và chỉ cho tôi tên và hình minh họa của loài cá cổ đại đó. Và tôi đã cảm thấy rùng mình khi nhận ra cơ quan tồn tại từ thời sơ khai của quá trình tiến hóa vẫn đang tồn tại bên trong mình.


*Chú thích

[39] Buxtehude: Dietrich Buxtehude (1637-1707) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ đàn đại phong cầm người Đan Mạch. Một trong những nhà soạn nhạc quan trọng nhất thời ba rốc. Năm 1668, ông là người chơi đàn organ tại nhà thờ ở Lubeck, nhờ vậy ông trở nên nổi tiếng về sáng tác và tài chơi đàn organ. Các tác phẩm của ông chỉ còn lưu lại được 120 bản gốm các bản oratorio-cantata, sonata, trio-sonata, tổ khúc cho những dàn đồng diễn thính phòng, fugue, toccata, chaconne. Phong cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nhà soạn nhạc thế hệ sau. Hàng năm, ông biểu diễn đàn organ vào 5 ngày chủ nhật trước Giáng sinh. Johann Sebastian Bach đã phải đi bộ 200 dặm để nghe nhà soạn nhạc Đan Mạch biểu diễn.

Imagebuxtehude.jpg

[40] Zulu: Người Zulu là nhóm dân tộc lớn nhất và nổi tiếng nhất của Nam Phi. Người Zulu tổng cộng có 11-12 triệu người tập trung sinh sống chủ yếu tại tỉnh KwaZulu – Natal, đông nam Nam Phi. Một số lượng nhỏ người Zulu cũng sinh sống ở Zimbabwe, Zambia, Tanzania và Mozambique. Ngôn ngữ của họ, tiếng Zulu, là một ngôn ngữ Bantu; cụ thể hơn, thuộc phân nhóm Nguni. Vương quốc Zulu đã đóng một vai trò lớn trong lịch sử Nam Phi trong thế kỷ 19 và 20.Zoulous (Shakaland).jpg

Các nguồn tài liệu chú thích:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dietrich_Buxtehude
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Zulu


Hết Chương V.

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT THUỘC SỞ HỮU CỦA THE LITTLE GROUND-FLOOR.
XIN KHÔNG REPOST TẠI NƠI KHÁC HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI.

Advertisements

One thought on “[Trans] Demian – Chương V (II)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s