Translated Books

[Trans] Demian – Chương V (I)

5

Chương V – “Chim non phá vỏ chào đời”

Phần I.

Biên dịch: Gf93
Biên tập: An
Minh họa: High Blood


Bức họa con chim lý tưởng của tôi đang trên đường tìm đến Demian. Bằng một cách có thể coi là kỳ lạ nhất, tôi nhận được lời hồi âm.

Sau giờ giải lao giữa hai tiết, tôi tìm thấy một tờ giấy nhắn kẹp trong cuốn sách đặt trên bàn. Tờ giấy được gấp theo đúng kiểu mà mấy đứa cùng lớp tôi vẫn bí mật truyền nhau trong giờ. Tôi chỉ ngạc nhiên rằng tại sao mình lại nhận được tờ giấy đó, tôi vốn chẳng có một mối quan hệ kiểu vậy với bất kỳ ai trong lớp. Tôi đã nghĩ đó có thể là lời mời tham gia vào trò bịp nào đó mà hẳn là tôi sẽ không muốn liên quan. Tôi không đọc mà để mặc tờ giấy nhắn trên quyển sách, và mãi đến lúc ngồi học mới lại để mắt đến nó.

Vân vê tờ giấy một hồi, tôi mở nó ra một cách tùy tiện, trên đó có viết vài chữ. Một cái nhìn liếc qua đã quá đủ. Một chữ thôi và tôi chết sững. Hoảng loạn, tôi lần đọc tiếp trong khi nỗi sợ hãi bóp nghẹt lấy trái tim mình:

“Chim non cựa mình tìm cách phá vỏ chào đời. Vỏ kia là cả thế giới của chim non. Kẻ nào muốn tái sinh, trước tiên phải hủy diệt thế giới. Chim kia tìm về với Chúa, về với vị Thánh có tên Abraxas [38].”

Sau khi đọc đi đọc lại dòng chữ đó, tôi chìm sâu vào mộng tưởng. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, đây là lời hồi đáp của Demian. Không ai khác biết về bức vẽ của tôi. Anh ta nắm được ý nghĩa của bức tranh và giúp tôi diễn đạt nó. Nhưng tất cả những điều này đã ăn nhập với nhau bằng cách nào? Và – thứ đè nặng tôi hơn tất thảy – Abraxas biểu thị điều gì? Tôi chưa bao giờ nghe cũng như đọc được từ này. “Tên của vị thánh đó là Abraxas.”

Tôi không chú tâm nổi vào bài học nữa. Tiết tiếp theo là tiết cuối của buổi sáng, là tiết học của một trợ giảng trẻ, Giáo sư Pollens, người vừa tốt nghiệp Đại học, người được lòng chúng tôi đơn giản vì anh ta còn trẻ và khiêm tốn.

Giáo sư Pollens dạy chúng tôi về lịch sử – một trong những môn học hiếm hoi mà tôi cảm thấy thú vị. Nhưng hôm nay ngay cả Lịch sử cũng không thể níu kéo sự chú ý của tôi. Tôi mở sách một cách máy móc nhưng không hề đọc mà chỉ chìm vào suy tư của chính mình. Bên cạnh đó, tôi thường nghĩ về những điều Demian đã nói trong một buổi học Thêm sức: cậu có thể đạt được mọi điều cậu muốn, chỉ cần cậu có đủ đam mê. Nếu tôi có đột nhiên chìm vào suy nghĩ trong giờ học, tôi cũng không mảy may lo lắng rằng giáo viên sẽ gọi đến tên. Nếu tôi lơ đãng, thầy sẽ đột nhiên xuất hiện bên cạnh. Việc đó thực sự đã xảy ra với tôi. Nhưng nếu tôi thực sự tập trung, hoàn toàn chìm đắm vào dòng suy nghĩ của mình, tôi lại cảm thấy bản thân được bảo vệ. Tôi cũng đã thử nghiệm trò hướng ánh nhìn xuống một người và tôi nhận ra nó thực sự hữu dụng. Hồi mà tôi vẫn ở bên cạnh Demian, tôi chưa một lần thành công trong việc đó, nhưng giờ đây tôi thường cảm thấy rằng một ánh nhìn và suy nghĩ sắc bén có thể mang lại một món hời.

Hiện tại tôi hoàn toàn không đặt tâm trí ở tiết Lịch sử hay trường học. Bỗng nhiên giọng của thầy giáo cất lên như một tia sét đánh thẳng vào tiềm thức của tôi, khiến tôi bàng hoàng tỉnh dậy. Tôi đã nghe được giọng thầy, anh ta đứng ngay bên cạnh tôi, tôi thậm chí còn nghĩ thầy đã gọi tên tôi. Nhưng anh ta không nhìn vào tôi, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Rồi giọng nói của anh ta một lần nữa cất lên. Một cách to và dõng dạc, chữ “Abraxas” vang lên.

Trong suốt phần diễn giải dài ngoằng mà tôi đã lỡ bỏ qua phần đầu, Giáo sư Pollens tiếp tục: “Chúng ta không nên đứng trên quan điểm duy lý để đánh giá những quan điểm của những giáo phái bí ẩn là ngây ngô như cái cách mà chúng truyền đạt. Cổ nhân không hề biết đến khoa học như chúng ta ngày nay. Thay vào đó, họ bận tâm đến những nhận định đầy tính triết lý và bí ẩn được xây dựng và trau chuốt thời bấy giờ. Thứ vượt lên trên cả những ưu tư ấy về khía cạnh nào đó đơn giản chỉ là ma thuật tẻ ngắt và sự phù phiếm mà thôi. Có lẽ nó thường dẫn đến những lọc lừa và tội ác, nhưng thứ phép thuật này, cũng sở hữu những gì cao quý trong một triết lý sâu sắc. Ví dụ như việc dạy những điều liên quan đến Abraxas mà tôi vừa nói khi nãy. Cái tên này gắn với những thể thức ma thuật của người Hy Lạp và thường được cho là tên của một phụ tá thầy phù thuỷ theo quan niệm của một số bộ lạc chưa được khai sáng. Nhưng rõ ràng là Abraxas còn có một tầm ảnh hưởng sâu đậm hơn nữa. Chúng ta có thể quan niệm rằng đây là cái tên của một vị thánh, với nghĩa vụ tượng trưng là hòa hợp những điều thần thánh và ác quỷ.”

Người đàn ông có học thức nói kèm theo sự thông tuệ và tất cả say mê, nhưng chẳng ai thèm chú ý, và vì cái tên Abraxas không được nhắc đến nữa, tâm trí tôi lại trở về với những trăn trở của chính mình.

Câu “hòa hợp giữa cả những điều thần thánh và ác quỷ” vang lên trong đầu tôi. Đây chính là thứ mà những suy nghĩ tôi cần bám lấy. Ý tưởng này thật quá quen thuộc với tôi sau những cuộc nói chuyện cùng Demian. Trong những ngày tháng cuối cùng của mối quan hệ của chúng tôi, anh ta nói rằng chúng tôi được ban tặng một vị Chúa trờ để thờ phụng, người chỉ đại diện cho một nửa thế giới tách biệt một cách tùy tiện (đó là thế giới chính thống, được thừa nhận, và rực rỡ hào quang), nhưng chúng ta nên thờ phụng cả thế giới, có nghĩa rằng chúng ta hoặc phải có cho mình cả một vị thần kiêm ác quỷ, hoặc ta phải tôn sùng một ác ma bên cạnh thờ phụng thần thánh. Và giờ đây, Abraxas chính là vị thánh mang trong mình cả chúa và ác ma.

Đã có khi tôi theo đuổi suy nghĩ của mình một cách hăm hở mà không có tiến triển gì. Tôi thậm trí đã lục tung cả thư viện lên để tìm tư liệu về Abraxas. Nhưng bản tính của tôi chưa bao giờ sẵn sàng làm mấy việc nghiên cứu một cách trực tiếp và tỉnh táo đến vậy, để rồi ban đầu chỉ tìm thấy những sự thật nặng nề, không dẫn tới đâu.

Bóng hình của Betrice đã từng một thời tràn ngập trong tôi đầy gần gũi và nhiệt thành, nay đã đã dần chìm xuống, hay chính xác hơn, là chầm chậm rút lui, về phía chân trời ngày một xa xôi, trở nên mờ nhạt và xa hơn, nhạt nhòa hơn. Cô ấy đã không còn có thể thỏa mãn những ham muốn trong tâm hồn tôi nữa.

Trong thế giới cô lập riêng biệt mà tôi tự tạo ra, tại nơi đó tôi tồn tại như một kẻ mộng du, một cái gì đó bắt đầu sinh sôi thành hình bên trong tôi. Đó là ham muốn được sống – hay đúng hơn là ham muốn được yêu. Thôi thúc dục vọng mà tôi đã từng chế ngự bằng cách nghĩ về sự tôn sùng với Beatrice, đòi hỏi những hình ảnh và những điều mới mẻ hơn. Nhưng những đòi hỏi nơi tôi vẫn mãi không được lấp đầy, và thậm chí còn trở nên vô vọng hơn bao giờ hết khi tôi tự dối lừa những ham muốn và hy vọng của mình về một điều gì đó từ những người phụ nữ mà bạn bè quanh tôi thường chơi đùa cùng. Tôi lại mơ những giấc mơ sống động, thậm chí mơ giữa ban ngày thay vì ban đêm. Những hình ảnh, những bức tranh, những khát khao sinh sôi trong tôi, kéo tôi rời xa thế giới ngoài kia để tôi có thể liên kết với thế giới trong tâm hồn mà tôi tạo ra, thay vì thế giới thực quanh tôi, một cách bền vững và sống động nhất.

Một giấc mơ hay một hình ảnh huyễn hoặc cứ tiếp tục lặp lại, dần trở nên ý nghĩa với tôi. Giấc mơ, thứ quan trọng và mãi là đặc biệt nhất trong đời tôi lại trở nên thế này: khi tôi trở về nhà của cha – phía trên cánh cổng bức phù điêu hình con chim tỏa ra ánh sáng vàng kim trên nền xanh dương mờ phủ. Mẹ từ trong nhà bước về phía tôi – nhưng khi tôi bước vào và muốn ôm lấy bà, tôi lại nhìn thấy một thân hình không phải mẹ, cao lớn, mạnh mẽ, giống hệt Max Demian và bức tranh tôi từng vẽ, nhưng điểm khác biệt là, dù có phô trương sức mạnh thế nào, đây vẫn là phụ nữ. Tôi bị kéo về hướng nó và được bao bọc trong một cái ôm chặt đầy rung động. Tôi cảm thấy mê ly nhưng cũng đồng thời kinh hãi – cái ôm ngay lúc ấy là một hành động sùng bái thiêng liêng, đồng thời cũng là tội ác. Có quá nhiều mối liên kết giữa mẹ và người bạn của tôi đan xen hòa lẫn trong tấm thân đang ôm lấy tôi trọn vẹn. Cái ôm đó xâm phạm mọi cảm giác tôn sùng nơi tôi, nhưng tôi vẫn cảm thấy vô vàn hạnh phúc. Đôi khi tôi tỉnh giấc khỏi cơn mơ mang theo cảm giác mê ly ngây ngất, đôi khi lại là nỗi sợ hãi ghê gớm cùng với một lương tâm bị giày vò như thể tôi đã phạm tội gì khủng khiếp lắm vậy.

Một cách từ từ và vô thức, chính hình ảnh vô cùng thân thết này lai liên quan tới manh mối về vị Chúa Trời mà tôi đang tìm kiếm, một gợi ý tìm đến tôi từ thế giới ngoài kia. Mối liên kết ngày một thu hẹp dần và trở nên gần gũi hơn, giờ tôi bắt đầu cảm nhận được rằng tôi đang tìm gọi Abraxas, đặc biệt là trong giấc mơ này. Vui sướng và sợ hãi, đàn ông và đàn bà hòa lẫn vào nhau, những gì thuộc về thần thánh và những thứ khủng khiếp nhất quấn quít lấy nhau, tội lỗi vụt xuyên qua sự vô ưu nhẹ nhàng nhất, đó chính là hình hài của thứ tôi yêu trong giấc mơ, và Abraxas cũng vậy. Tình yêu đã không còn gắn với ham muốn nhục dục tối tăm mà tôi từng trải nghiệm lần đầu trong sợ hãi, cũng không còn sự biến chuyển đầy nhiệt tình mà tôi dành cho Beatrice. Nó là cả hai, thậm chí còn hơn thế. Đó là hình ảnh của một thiên thần và cả một con quỷ Satan, nam và nữ chảy chung dòng máu, con người và quái vật, thứ cao đẹp nhất và thứ độc ác nhất. Dường như định mệnh bắt tôi phải sống thế này, giống như là số phận tôi đã được định đoạt từ trước. Tôi mong mỏi, tôi khát khao nhưng đồng thời tôi cũng sợ hãi vô cùng. Chưa bao giờ, sự do dự băn khoăn cứ mãi luẩn quẩn trong đầu tôi.

Mùa xuân tới là tôi sẽ tốt nghiệp trường dự bị và vào đại học. Nhưng tôi vẫn không thể quyết định mình sẽ học ở đâu và học ngành gì. Tôi nuôi một hàng ria mép mỏng, tôi trở thành một người đàn ông trưởng thành, và tôi vẫn hoàn toàn vô dụng, không có nổi cho mình một mục tiêu trong đời. Chỉ có một điều duy nhất mà tôi chắc chắn: giọng nói bên trong tôi và những hình ảnh trong giấc mơ của tôi. Tôi cảm thấy bất luận thế nào mình cũng phải đi theo tiếng nói ấy dù nó dẫn tôi về đâu. Nhưng thật khó khăn làm sao, và mỗi ngày tôi lại một lần nữa chống lại nó. Có lẽ tôi điên rồi, đôi khi tôi đã nghĩ như vậy, có lẽ tôi không giống những người khác? Nhưng tôi vẫn có thể làm được những việc người khác vẫn làm, chỉ cố gắng một chút tôi có thể đọc được triết học Plato, có thể giải các bài lượng giác hay phân tích hóa học. Điều duy nhất tôi không thể làm được đó là cố lấy hết những bí mật u ám ra khỏi chính mình và giữ nó phía trước như những người khác vẫn làm, những người biết chính xác họ muốn gì – giáo sư, luật sư, bác sĩ, nghệ sĩ – dù họ phải mất bao lâu và dù cho khó khăn hay lợi ích có thế nào, quyết định này vẫn sẽ như cũ. Đó là điều tôi không thể làm. Có lẽ tôi sẽ trở thành điều gì tương tự, nhưng sao tôi có thể biết được? Có lẽ tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm kiếm trong hàng năm trời và rồi chẳng thể trở thành một ai đó, và chẳng thể với tới nổi một mục tiêu. Có lẽ tôi sẽ đạ được mục tiêu ấy, nhưng nó lại hóa quỷ ma có bao nhiêu nguy hiểm và kinh hãi.

Tôi chỉ muốn cố gắng sống yên bình với những sự thúc giục từ sâu thẳm thâm tâm. Cớ sao điều đó lại khó khăn đến vậy?

Tôi đã vài lần cố gắng vẽ nên một ác quỷ vĩ đại trong mơ, nhưng chẳng một lần thành công. Nếu có chăng một lần toại nguyện, tôi sẽ gửi bức tranh cho Demian. Dù tôi chẳng hề hay biết anh ấy đang ở nơi nào, nhưng tôi biết rằng chúng tôi được kết nối lại với nhau. Và khi nào thì tôi mới có thể gặp lại anh ấy đây?

Sự thanh bình suốt mấy tháng trong mối quan hệ với Beatrice của tôi đã sớm qua đi. Tại thời điểm đó tôi cảm giác như mình đã tìm được một bến đỗ an toàn, một hòn đảo yên bình. Nhưng mọi khi, ngay khi tôi vừa thích nghi được với hoàn cảnh, ngay khi có một giấc mơ mang đến cho tôi đầy hy vọng, thì mọi thứ lại sụp đổ và trở nên vô dụng. U sầu sau mất mát phỏng có ích lợi gì. Giờ tôi như đang ngồi trên đống lửa của những ham muốn không được thỏa mãn, của sự khát khao tột cùng, những thứ cảm xúc thường hay biến tôi trở thành một kẻ điên cuồng. Tôi thường thấy con quỷ dấu yêu trong mơ rõ ràng còn hơn cả thực tại, rõ ràng hơn cả bàn tay tôi, tôi nói với nó, khóc dưới chân nó, nguyền rủa nó. Tôi gọi nó là mẹ và quỳ gối phủ phục trước nó trong nước mắt. Tôi gọi nó là tình yêu của tôi và có linh cảm về một nụ hôn đủ đầy chín chắn. Tôi gọi nó là ác quỷ và loài đĩ điếm, là quỷ hút máu, là kẻ giết người. Nó dụ dỗ tôi vào giấc mơ tình yêu dịu dàng nhất, rồi lại đến sự vô liêm sỉ tàn tệ nhất, không có gì là quá quý giá hay tốt đẹp, và cũng chẳng có gì là xấu xa và thấp hèn đối với nó.

Tôi trải qua cả mùa đông trong sự bất an vô tận mà tôi khó có thể diễn tả được. Tôi đã quá quen với cô đơn – tôi chẳng còn cảm thấy áp lực nữa, tôi sống với hình ảnh của Demian, với con chim ưng, với con quỷ hung tàn trong giấc mơ, giống loài vừa là sốmệnh vừa là tình yêu của tôi. Chừng ấy điều đã là quá đủ để tôi tiếp tục cuộc sống này, bởi tất thảy mọi thứ đã hướng về một khoảng không bao la – tất cả đều hướng về Abraxas. Nhưng không một giấc mơ nào, không một ý nghĩ nào tuân theo tôi, không một điều gì nghe theo lệnh của tôi, tôi không thể tô vẽ cho bất cứ thứ gì như tôi muốn. Chúng đến và bắt lấy tôi, tôi nghe theo những gì chúng sai bảo, tôi trở thành hiện thân của chúng.

Dù vậy, tôi đã được trang bị kỹ càng để đối đầu với thế giới ngoài kia. Tôi đã không còn sợ con người nữa, kể cả những đứa bạn học cũng biết điều đó và họ đối xử với tôi kèm theo một lòng kính trọng bí ẩn mà thường khiến tôi không thể kiềm chếmà mỉm cười. Nếu muốn, tôi có thể nhìn thấu phần lớn bọn họ thậm chí đôi khi còn khiến họ phải giật mình. Chỉ là tôi chẳng bao giờ cố làm việc đó. Tôi vẫn luôn bận tâm về chính mình. Và tôi ước muốn đến tuyệt vọng có thể sống thực sự dù chỉ một lần, có thể thể hiện bản thân mình với thế giới, có thể có một mối quan hệ và đấu tranh đến cùng với nó. Có đôi khi vào những buổi tối khi tôi chạy băng qua những dãy phố tối tăm và không bao giờ có thế trở về trước nửa đêm vì thao thức bồn chồn, tôi có cảm giác sẽ gặp được tình yêu của mình vào ngay lúc ấy – khi nàng lướt qua tôi nơi góc phố tiếp theo, cất tiếng gọi tôi từ ô cửa số sát kề. Còn những lúc khác, tất cả trở thành một nỗi đau đến tận xương và tôi đây đang sẵn sàng tự sát.

Ngay khi ấy, tôi tìm thấy một nơi ẩn náu kỳ lạ – “một cách tình cờ”, như người ta vẫn nói – dù cho tôi tin rằng chẳng có chuyện gì là ngẫu nhiên. Khi người ta ham muốn thứ gì đó đến điên cuồng rồi có được, thì đó không phải là bỗng nhiên, mà chính khát khao và sự cưỡng ép bản thân đã dẫn họ đến với nó.

Có đôi lần tôi nghe thấy tiếng đàn organ vang ra từ một nhà thờ nhỏ bên rìa thị trấn. Tôi đã không dừng lại để lắng nghe. Lần tiếp theo đi qua nhà thờ, tiếng nhạc lại vọng ra và tôi nhận ra đó là nhạc của Bach. Tôi tiến về cánh cửa và nhận ra nó đã bị khóa, và bởi vì con phố vắng tanh chẳng có nổi một bóng người, tôi ngồi phịch xuống phiến đá lát đường bên cạnh nhà thờ, dựng thẳng cổ chiếc áo khoác lên và lắng nghe. Âm thanh ấy không thuộc về một cây đàn to lớn, nhưng âm vực lại tuyệt hảo làm sao. Nó được chơi với sự phô bày ý chí cá nhân một cách lạ kỳ và sự bền bỉ cao độ. Tôi cảm thấy người chơi biết rõ những báu vật ẩn sâu trong từng khuông nhạc, rằng người ấy đang cố gắng theo đuổi, không ngừng đập phá cánh cổng, vật lộn tranh đấu vì kho báu này cũng như vì cuộc đời của chính mình. Kiến thức về âm nhạc của tôi rất có hạn, nhưng từ ngày bé tôi đã có trực giác cảm nhận âm nhạc bên trong mình như một điều gì đã quá đỗi hiển nhiên.

Người nhạc công cũng chơi cả nhạc hiện đại hơn, hình như là Max Reger. Nhà thờ gần như chìm vào bóng tối, chỉ còn lại vài tia sáng le lói xuyên qua cửa sổ gần nhất nơi tôi đứng. Tôi chờ đến khi tiếng nhạc ngừng hẳn, đi đi lại lại trước nhà thờ cho đến khi thấy người nhạc công bước ra. Anh ta vẫn còn trẻ, có vẻ lớn tuổi hơn tôi, dáng người béo lùn, vai ngang, và anh ta đi có phần gấp gáp, bước những bước dài mạnh mẽ nhưng lại có phần miễn cưỡng.

Từ đó tôi thường ngồi ngoài nhà thờ hay đứng lên ngồi xuống trước cửa cả buổi tối. Thậm chí có lần tôi đã phát hiện ra cánh cửa để mở và đã ngồi nơi băng ghế trong nhà thờ suốt nửa tiếng đồng hồ, rùng mình vì rét, nhưng chừng nào người nhạc công còn chơi đàn nơi giáo đường, chừng đó tôi vẫn còn cảm thấy hạnh phúc. Tôi không chỉ nhận ra tính cách của anh ta thông qua âm nhạc anh ta chơi, mỗi bản nhạc anh ta trình diễn cũng đều có sự kết nối với bài kế tiếp, một mối dây liên kết bí mật. Bản nhạc nào anh ta đàn cũng ngập tràn đức tin, sự quy phục và dâng hiến. Nhưng đó không phải là sự tôn sùng theo lề thói của những người cầu nguyện hay những vị mục sư, lòng mộ đạo giống như những người hành hương và hành khất thời Trung Cổ, cũng không phải kiểu sùng bái bằng sự quy thuận vô điều kiện tới một cảm xúc chung vượt qua cả mọi lời xưng tội. Anh ta cũng chơi những bản nhạc trước thời Bach, và những nhạc sĩ già nua của Ý. Và tất cả những bài nhạc cùng thể hiện một điều, hay có chăng là chính tâm hồn người chơi nhạc: sự khao khát, sự đền tội sâu sắc nhất với thế giới này và sự giải tỏa nỗi đau một cách mãnh liệt, một sự tha thiết lắng nghe góc tối trong tâm hồn một người, một sự quy hàng say sưa và sự tò mò mạnh mẽ về những điều kỳ diệu.

Một lần khi tôi đi theo người nhạc công sau khi anh ta rời khỏi nhà thờ, tôi thấy anh ta bước vào một quán rượu nhỏ ở ven thị trấn. Tôi không thể ngăn bản thân mình cất bước đi theo. Và lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh ta một cách rõ ràng. Anh ta ngồi ở một góc xa trong căn phòng nhỏ, đội một chiếc mũ nỉ màu đen kèm theo một bình rượu trước mặt. Gương mặt anh ta giống như tôi tưởng tượng, xấu xí và có chút hoang dã, bướng bỉnh và có nét tọc mạch, thất thường nhưng lại quyết đoán, nhưng miệng anh ta lại mang một nét trẻ con nhẹ nhàng. Tất cả nét nam tính và sức mạnh đều tập trung ở đôi mắt và vùng trán, trong khi phần dưới của khuôn mặt lại mang theo nét nhạy cảm và chưa trưởng thành, không bị kiềm chế và có phần mềm mại. Đường cằm trẻ con mang theo vẻ phân vân đối lập hoàn toàn với vầng trán và đôi mắt – bộ phận mà tôi thích, đôi mắt nâu sậm ấy, ngập đầy kiêu hãnh và thái độ thù địch.

Tôi ngồi xuống đối diện anh ta mà chẳng nói lời nào. Chúng tôi đơn giản chỉ là hai vị khách trong một quán rượu nhỏ. Anh ta nhìn tôi như thể muốn đuổi tôi đi, nhưng tôi chẳng hề nhúc nhích, bất động nhìn chằm chằm vào anh ta cho đến khi anh ta phải càu nhàu khinh khỉnh:

“Rốt cuộc cậu đang nhìn cái quái gì hả? Cậu muốn gì đây?”

“Không, tôi chẳng muốn gì từ anh cả.” Tôi nói. “Anh đã cho tôi một món đủ hời rồi.”

Anh ta nhíu chặt đôi lông mày.

“Vậy ra cậu là một người yêu nhạc. Tôi phát tởm mấy đứa điên vì âm nhạc.”

Không để cho anh ta dọa dẫm, tôi nói:

“Tôi thường nghe anh đàn nơi nhà thờ. Nhưng tôi không hề muốn gây rắc rối cho anh. Tôi chỉ là nghĩ mình vừa tìm thấy một điều gì đó đặc biệt. Tôi thực sự không biết nó là gì. Nhưng mà xin đừng để ý đến tôi. Tôi đã nghe tiếng đàn của anh trong nhà thờ.”

“Nhưng tôi lúc nào cũng khóa cửa.”

“Không lâu trước đây anh đã quên và tôi đã vào bên trong ngồi. Còn thường thì tôi vẫn đứng phía ngoài hoặc là ngồi bên lề đường.”

“Thật sao? Lần tới cậu có thể vào trong, bên trong ấm hơn đấy. Cậu chỉ cần gõ cửa là được. Nhưng phải gõ mạnh vào và nhớ đừng có gõ trong lúc tôi đang đàn. Giờ đi thẳng vào vấn đề, cậu muốn nói gì với tôi? Cậu nhìn vẫn còn trẻ, có thể là sinh viên hay gì đó. Cậu là nhạc công à?

“Không. Tôi chỉ thích nghe nhạc mà thôi, nhưng chỉ loại nhạc mà anh chơi ấy, một thứ âm nhạc không hề dè dặt, thứ nhạc khiến người ta cảm thấy rằng một người đang khuấy tung thiên đường và địa ngục. Tôi tin rằng tôi yêu thứ nhạc ấy vì nó vượt xa mọi rào cản luân lý. Tất cả những thứ ngoài kia đều khoác trên mình thứ vỏ bọc đạo đức mà đó không phải điều tôi hằng tìm kiếm. Tôi chưa bao giờ phù hợp với mấy thứ phẩm hạnh đó. Tôi không biết phải giải thích sao cho tốt nữa. Anh có biết có một vị thần vừa là Thần thánh lại vừa là Ác quỷ cùng một lúc không? Chắc chắn phải có một người như thế. Tôi đã nghe về điều này rồi.”

Người nhạc công đẩy chiếc mũ rộng về phía sau một chút và hất tóc che khỏi mắt và nhìn tôi chằm chằm. Anh ta hạ thấp gương mặt xuống bàn và hỏi tôi một cách mềm mỏng đầy mong chờ:

“Vị thần cậu nói đến tên là gì?”

“Tiếc là trừ cái tên ra thì tôi chẳng biết gì thêm về vị thần đó. Tên của ngài là Abraxas.”

(còn tiếp)


*Chú thích

[38] Abraxas: Vị thần trong thần thoại Hy Lạp tượng trưng cho cả điều thiện và điều ác. Vị Thánh Abraxas được sử dụng như một biểu tượng xuyên suốt cả tác phẩm, lý tưởng hóa việc phụ thuộc lẫn nhau của tất cả những gì tốt đẹp và xấu xa trên thế giới. Demian cho rằng Chúa Jehovah, Chúa của người Do thái chỉ là một mặt của Chúa, mặt này điều khiển mọi thứ, nhưng vẫn còn một nửa khác của thế giới, và thượng đế phải chứa cả hai mặt này. Biểu tượng Abraxas xuất hiện qua hình ảnh một loài chim phá vỡ vỏ trứng hay một quả cầu.Abraxas_Infernal_Dictionary.png

Các nguồn tài liệu chú thích:
https://en.wikipedia.org/wiki/Demian


Hết phần I – Chương V.

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT THUỘC SỞ HỮU CỦA THE LITTLE GROUND-FLOOR.
XIN KHÔNG REPOST TẠI NƠI KHÁC HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI.

Advertisements

One thought on “[Trans] Demian – Chương V (I)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s