dịch · Translated Books

[Trans] Demian – Chương IV (I)

1 - N3iKDIY.png

Chương IV – Beatrice

Phần I.

Biên dịch: Gf93
Biên tập: An
Minh họa: High Blood


 

Khi kỳ nghỉ kết thúc mà vẫn chưa một lần gặp lại Demian, tôi đã đến trường Thánh —— [29]. Cha mẹ cũng đi cùng và giao tôi cho một ký túc xá nam được điều hành bởi một trong những giáo viên tại trường dự bị. Họ chắc sẽ sợ chêt khiếp nếu biết được họ đã để tôi lạc vào một nơi như thế nào.

Câu hỏi vẫn bỏ ngỏ, rằng cuối cùng tôi sẽ trở thành một đứa con ngoan ngoãn, một công dân có ích, hay sẽ bộc lộ hết bản năng theo con đường hoàn toàn khác biệt? Đã từ rất lâu rồi kể từ lần cuối cùng tôi gắng tìm hạnh phúc dưới cái bóng của nhà nội. Đôi khi những nỗ lực của tôi gần như chạm đích, nhưng đến cuối cùng lại thất bại hoàn toàn.

Sự trống rỗng khác thường và sự cô lập mà tôi cảm nhận được bắt đầu sau ngày lễ Kiên tín (quen thuộc làm sao khi nó bắt đầu trở thành quá khứ, một phế tích, một làn khói mỏng manh) đã chầm chậm trôi đi. Việc rời khỏi gia đình hóa ra chẳng có gì khó khăn, tôi có hơi hổ thẹn khi bản thân không nhớ nhà chút nào. Các chị tôi khóc rất nhiều, còn tôi vành mắt vẫn cạn khô. Tôi thậm chí còn ngạc nhiên về chính mình. Tôi vốn là một đứa trẻ ngoan ngoãn và đa cảm, vậy mà giờ đây tôi đã đổi thay thật rồi. Tôi tỏ ra hoàn toàn lãnh đạm với thế giới ngoài kia, và trong nhiều ngày những giọng nói vọng ra từ những dòng chảy nội tại, dòng chảy cấm nhuốm màu đen tối lẩn khuất tận sâu làm tôi bận trí. Trong nửa năm qua tôi đã cao thêm vài inch, và tôi đã sống trên cõi đời này trong bộ dáng gầy gò, lêu nghêu và dở sống dở chết. Tôi đã đánh mất đi sức hấp dẫn của riêng mình và dường như sẽ chẳng còn ai có thể yêu thương tôi nữa. Tôi hoàn toàn chán ghét bản thân. Dù đôi lúc tôi cũng có ham muốn mạnh mẽ với Demian, nhưng số lần tôi cảm thấy ghét anh ta, kết tội anh ta vì đã khiến cuộc đời tôi trở nên vô dụng và để cho sự kiệt quệ kia giữ chặt tôi trong vòng quay của nó như một thứ bệnh dịch hôi hám.

Tôi không được yêu thích cũng chẳng được tôn trọng trong ký túc xá nam. Ban đầu tôi thường bị chọc ghẹo, sau đó lại bị xa lánh và bị nhìn như một kẻ ăn trộm hay một đứa lập dị không được chào đón. Tôi chấp nhận tình hình này, thậm chí còn phóng đại nó lên, tự dằn bản thân mình vào một vỏ bọc độc lập. Người ngoài khi nhìn vào hẳn sẽ thấy tôi như một thằng con trai lúc nào cũng tỏ ra bất cần, nhưng thực chất, tôi thường bí mật buông xuôi trước những nỗi sầu muộn và tuyệt vọng đầy ám ảnh. Ở trường, tôi cố gắng xoay sở với lượng kiến thức đã học từ lớp tôi đã theo trước đây – vì lớp hiện tại học chậm hơn lớp cũ – và tôi bắt đầu coi khinh những đứa cùng tuổi như thể chúng chỉ là trẻ con.

Tôi cứ như vậy trong khoảng một năm hoặc hơn. Những chuyến về thăm nhà đầu tiên đều nhạt nhẽo, và tôi đã thấy vui khi có thể quay lại trường.

Đó là khoảng đầu tháng Mười một. Tôi đã bắt đầu quen với việc đi bộ trên đường và chìm vào suy tưởng trong mọi loại thời tiết, tôi đắm mình vào cảm giác say mê đượm u buồn, sự khinh miệt của thế giới và căm hờn bản thân. Rồi một tối nọ, tôi lang thang trong bóng tối mịt mù quanh thị trấn. Con đường rộng dài của công viên công cộng vắng vẻ và hiu quạnh, ra hiệu vẫy gọi tôi bước đến, lối đi phủ dày những lớp lá rụng mà tôi lấy chân khua loạn không ngừng. Mùi hăng nồng, ẩm thấp, bóng những cái cây cao đổ xuống như những bóng ma khổng lồ lờ mờ lẩn trong màn sương mỏng.

Tôi dừng lại, lưỡng lự phía bên kia đường, nhìn chằm chặp vào tán lá tối tăm, tôi hít một hơi căng đầy thứ mùi ẩm ướt của sự mục rữa chết chóc mà có gì đó bên trong tôi lại vui mừng tiếp nhận.

Có ai đó bước ra từ phía bên kia đường, áo gió của cậu ta nâng lên theo từng bước đi, tôi đã định tiếp tục việc đang làm nhưng một giọng nói lại vang lên.

“Chào, Sinclair.”

Cậu ta tiến tới chỗ tôi. Là Alfons Beck, đứa lớn nhất trong ký túc xá. Tôi thường cảm thấy vui vẻ khi gặp anh ta, không có gì phải phàn nàn trừ việc anh ta đối xử với tôi, hay bất cứ đứa nào nhỏ hơn, bằng cái kiểu chiếu cố như bề trên. Người ta đồn anh ta khỏe như gấu và có thể khiến giáo viên trong ký túc nhất nhất phục tùng. Anh ta là người hùng trong hàng tá câu chuyện của lũ học sinh.

“Đang làm gì ở đây thế?” Anh ta gọi tôi bằng thứ giọng niềm nở ân cần mà mấy đứa lớn hơn vẫn thường ra vẻ khi nói chuyện với chúng tôi.

“Tôi cá là em đang làm thơ.”

“Không nghĩ tới,” Tôi đáp lời cộc lốc.

Anh ta cười lớn, đi bên cạnh tôi, gợi ra những cuộc hội thoại ngắn ngủi theo cách mà tôi đã không thể quen nổi trong một thời gian dài.

“Em không cần phải sợ nếu tôi không hiểu, Sinclair. Luôn có gì đó nảy ra khi đi bộ lang thang cùng những suy tưởng nhuốm màu thu sang trong màn sương mờ buổi tối. Tôi biết người ta thường thích làm thơ vào những lúc như thế này. Về thiên nhiên tàn úa, và tất nhiên, về tuổi trẻ ai đó đánh mất giống như chính sự suy vong của tạo hóa. Kiểu như Heinrich Heine [30] ấy.”

“Tôi không ủy mị như thế,” Tôi biện hộ.

“Được rồi, quên chuyện đó đi. Nhưng với tôi thì trong thời tiết thế này, việc một người đàn ông nên làm là tìm một nơi yên tĩnh và thưởng thức vài ly rượu ngon hay gì đó tương tự. Em sẽ đi cùng chứ? Hiện tại thì tôi chỉ có một mình thôi. Hay là em không muốn? Tôi không muốn là kẻ làm hư em, thế đó, nếu như em muốn trở thành đứa ngoan hiền.”

Không lâu sau chúng tôi đã ngồi ở một quán rượu trái phép ở gần ngoại ô, uống thứ rượu không rõ chất lượng và nghe tiếng leng keng khi chạm cốc. Ban đầu tôi không thích lắm, nhưng ít nhất đây cũng là trải nghiệm mới mẻ. Cuối cùng vì không quen với rượu cồn, tôi bắt đầu ba hoa. Cái cảm giác cứ như thể cánh cửa sổ nội tâm tôi bỗng nhiên bật mở, thế giới ngoài kia bỗng trở nên lấp lánh. Đã bao lâu, đã bao lâu rồi tôi không nói chuyện với bất cứ ai. Trí tưởng tượng tôi bắt đầu tuôn ra và thậm chí tôi đã lỡ miệng kể về câu chuyện của Cain và Abel.

Beck lắng nghe với sự hài lòng hiện rõ – cuối cùng ở đây cũng có người mà tôi có thể sẻ chia! Anh ta vỗ nhẹ vai tôi, gọi tôi là một đứa bạn ra trò, và trái tim tôi căng tràn ngây ngất trước cơ hội được giải thoát ham muốn được nói và giao tiếp bị dồn nén bấy lâu này, thậm chí còn được một người lớn tuổi hơn công nhận. Từng chữ khi anh ta gọi tôi là thằng nhóc khốn kiếp thông minh chảy vào hồn tôi như thứ rượu ngọt ngào. Thế giới lấp lánh những màu sắc tươi mới, những suy nghĩ tuôn trào như trăm con suối xiết. Ngọn lửa đam mê bùng lên trong tôi. Chúng tôi nói về giáo viên, bạn học, và dường như anh ta và tôi hiểu rất rõ về nhau. Chúng tôi nói về người Hy Lạp, những kẻ bỏ đạo nói chung, và Beck cứ muốn tôi thú nhận việc mình ngủ với gái. Điều này hoàn toàn không nằm trong phạm vi hiểu biết của tôi. Tôi chưa từng trải qua chuyện đó bao giờ, chẳng có gì đáng nói cả. Và những gì tôi cảm nhận, những gì tôi tưởng tượng ra giày xéo trong tôi, nhưng vẫn chưa thể nhờ hơi men của rượu để được nới lỏng và giãi bày. Beck có nhiều kinh nghiệm với con gái, vì thế tôi lắng nghe anh ta khoe thành tích của bản thân mà chẳng nói được lời nào. Tôi nghe về những điều phi thường, những điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ có thể trở thành chuyện thường ngày. Alfons Beck, mới 18 tuổi, nhưng dường như rất trải đời. Tỉ dụ như anh ta biết rằng con gái rất buồn cười, họ chỉ muốn tán tỉnh, nhưng đó chỉ là đùa giỡn. Nếu muốn yêu nghiêm túc, người ta nên làm quen với những người phụ nữ trưởng thành. Cô Jaggelt ở cửa hàng văn phòng phẩm là một ví dụ. Cô ấy có thể bàn chuyện làm ăn trong sáng, nhưng sau quầy thu ngân lại làm những điều ám muội mà một cuốn sách là không đủ để kể hết.

Tôi ngồi đó, vừa bị hấp dẫn vừa chết lặng. Đương nhiên tôi chưa bao giờ yêu cô Jaggelt – chuyện đó thì hoang đường quá. Hình như có những nguồn khoái cảm lẩn khuất, ít nhất là dành cho những tên con trai lớn hơn, mà tôi thì chưa bao giờ mơ đến. Có điều gì đó không đúng, nó tầm thường và ít hấp dẫn hơn mùi vị vốn có của tình yêu. Nhưng ít ra thì đây chính là thực tại, là cuộc sống và là những chuyến phiêu lưu, người ngồi cạnh tôi thì đã kinh qua hết thảy và coi đó là chuyện quá đỗi bình thường.

Một khi đã qua cao trào, cuộc nói chuyện của chúng tôi bắt đầu chìm xuống. Tôi không còn là thằng nhóc khốn kiếp thông minh nữa, tôi đơn thuần chỉ còn là một thằng nhóc đang lắng nghe một người đàn ông. Nhưng mọi thứ, nếu so sánh với những gì tôi phải trải qua suốt bao tháng qua, thì đây là chính là thiên đường. Bên cạnh đó, theo những gì khi tôi lờ mờ nhận ra, những điều này đều bị cấm, từ việc ngồi trong quán bar đến chủ đề cuộc đối thoại. Ít nhất với tôi, đó là một sự nổi loạn.

Tôi vẫn nhớ như in đêm hôm đó. Khi chúng tôi cùng về nhà trong men rượu, đi qua ánh sáng lờ mờ của những cột đèn đường, lần đầu tiên trong đời, tôi say. Cảm giác không dễ chịu gì, thực tế, còn vô cùng đau đớn, nhưng lại có một sự sung sướng dâng lên, sự ngọt ngào của cuộc chè chén nổi loạn thuộc về cuộc sống và tinh thần. Beck đã lo cho tôi rất tốt, dù luôn mồm chửi tôi là thằng ma mới, vẫn dìu tôi về nhà. Anh ta lén lút đưa tôi trèo qua cửa sổ hành lang mà không bị phát hiện.

Tôi tỉnh sau một giấc ngủ say như chết kèm theo cơn đau và sự mệt mỏi điên rồ. Tôi ngồi trên giường, áo sơ mi vẫn còn nguyên. Những mảnh quần áo còn lại rơi rớt trên sàn, nồng nặc mùi thuốc lá và nôn mửa. Giữa những cơn đau đầu, buồn nôn, khát đến cháy họng trộn lẫn, một hình ảnh mà đã lâu tôi chưa được nhìn thấy hiện ra trong tâm trí, tôi nhìn thấy ngôi nhà của cha mẹ, mái ấm của tôi, cha mẹ, các chị và khu vườn. Tôi nhìn thấy chiếc giường thân thuộc, ngôi trường, khu chợ, Demian và lớp Thêm sức. Mọi thứ đều tuyệt vời, thuần khiết, và giờ tôi nhận ra, tất cả vẫn thuộc về tôi ngày hôm qua, vài tiếng trước, và vẫn chờ đợi tôi trở về. Nhưng bây giờ, vào thời khắc này, tất thảy đều bị phá hủy và bị đày xuống địa ngục, không còn thuộc về tôi nữa, chối bỏ tôi, ghê tởm tôi. Những gì đáng quý nhất, những gì cha mẹ cho tôi đã trôi xa như những khu vườn thời thơ ấu, từng nụ hôn của mẹ, mỗi mùa Giáng sinh, mỗi lời cầu nguyện hay những buổi sáng ngập nắng ở nhà, từng nhành hoa trong vườn, tất cả đều bị phá hủy, bị chính tôi giẫm nát. Nếu bàn tay luật pháp tìm đến tôi, trói chặt và bịt miệng tôi, dẫn tôi đến giá treo cổ như một tên cặn bã, hay một kẻ báng bổ thần thánh trong đền, tôi sẽ không mảy may chống cự, vui mừng đi theo, và coi đó là lẽ tất nhiên phải vậy.

Và đó chính là hình hài tâm hồn tôi! Là tôi, kẻ suốt ngày tỏ ra khinh bỉ thế giới! Là tôi, kẻ có linh hồn kiêu hãnh và đồng suy nghĩ với Demian. Là tôi, một cục phân, một con lợn dơ dáy, say xỉn và bẩn thỉu, khó ưa và non nớt, một con quái vật đê hèn trở nên thấp kém vì sự tham lam ghê tởm. Cũng chính là tôi, người đã đi ra khỏi những khu vườn thuần khiết – nơi mọi thứ đều sạch sẽ, rực rỡ đầy thương mến, người từng yêu nhạc của Bach và những vần thơ xinh đẹp. Trong cơn buồn nôn và cảm giác sỉ nhục tôi vẫn nghe thấy tiếng cuộc đời mình, say xỉn và phóng túng, khục khặc những tiếng cười ngu ngốc. Tôi là như thế đấy.

Bỏ qua mọi thứ, tôi suýt chút nữa đã ăn mừng trong những đau đớn của mình. Tôi là kẻ mù quáng và vô tri, tim tôi đã chết lặng quá lâu rồi, rúm ró kiệt quệ trong góc tối, thế nên dù thậm chí là việc tự kết tội bản thân, hay sự kinh hãi, tất cả những cảm xúc khủng khiếp nhất tôi đều vui vẻ đón mừng. Ít nhất, tôi cũng có thể cảm nhận được gì đó, ít nhất đâu đó đã có những ánh hồng le lói, tim tôi ít nhất đã bừng lên ánh lửa. Trong hoang mang, tôi cảm thấy được có gì đó pha giữa tự do và thống khổ nhen nhóm.

Trong khi đó, nếu nhìn từ bên ngoài, tôi đang trượt dốc. Lần đầu say xỉn điên rồ của tôi đã mở màn cho những màn bê tha kế tiếp. Có rất nhiều vụ đến quán bar chè chén trong trường. Tôi là một trong những đứa nhỏ tuổi nhất tham gia, nhưng tôi cũng không còn là đứa non nớt khiến người ta phải miễn cưỡng dắt theo cùng. Tôi trở thành đứa đầu sỏ, một ngôi sao, một kẻ bám lấy quán bar đầy liều lĩnh và tai tiếng. Một lần nữa, tôi lại chìm vào thế giới bóng tối và ngả mình vào vòng tay ma quỷ, và ở thế giới này, tôi khá là có tiếng tăm.

Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy khổ sở. Tôi sống trong một cuộc say sưa tự hủy hoại bản thân, và khi những người bạn cùng trang lứa coi tôi là thủ lĩnh hay một chiến hữu vui tính sắc sảo, sâu trong tâm hồn tôi lại chất đống u buồn. Tôi vẫn nhớ những giọt nước mắt tràn ra trên gương mặt mình khi nhìn thấy lũ trẻ chơi đùa vào một sớm Chủ nhật sau một đêm túy lúy ở quán bar, những đứa trẻ với tóc tai được chải gọn gàng, diện những bộ đồ chỉn chu để đi dự lễ nhà thờ. Tôi thường lấy những lời phê bình chua cay chưa từng có làm trò tiêu kiển cho mấy thằng bợm nhậu ngồi cùng tôi, và thậm chí thường làm chúng nó kinh ngạc. Nhưng sâu thẳm trái tim, tôi sợ hãi mọi điều, tôi thu mình lại và khóc lóc trước Chúa trời, khóc cho tâm hồn tôi, quá khứ của tôi, và mẹ hiền của tôi.

Có những lý do tốt đẹp về việc tôi không bao giờ hòa nhập được với những đứa kia, việc tôi luôn cảm thấy cô đơn giữa họ và vì thế mà có sức chịu đựng lớn đến vậy. Tôi là một anh hùng quán bar, một tên phê bình giễu cợt có thể thỏa mãn khẩu vị của những kẻ tàn bạo nhất. Tôi thể hiện trí tuệ và dũng khí qua những ý tưởng và đánh giá về giáo viên, trường học, gia đình và nhà thờ. Tôi đương nhiên dám nghe cả những câu chuyện kinh tởm nhất và thậm chí mạo hiểm chính bản thân mình, nhưng tôi chưa bao giờ đi cùng bạn bè khi họ đi gặp gỡ phụ nữ. Tôi chỉ có một mình và bị lấp đầy bằng những khát khao tình yêu cháy bỏng, một ham muốn vô vọng biết bao nhiêu, trong khi đó nếu dùng lời nói của mình để đánh giá, tôi đã là một kẻ chạy theo nhục dục đầy kinh nghiệm rồi. Không một ai lại dễ tổn thương, không một ai lại e dè nhút nhát như chính tôi. Và khi tôi tình cờ nhìn thấy những cô gái trẻ, tiết hạnh của thị trấn lướt qua, xinh đẹp và chỉn chu, ngây thơ và duyên dáng, họ như những giấc mơ thuần khiết tuyệt vời, quá tốt để dành cho tôi. Đã có lúc tôi thậm chí không thể bước chân vào cửa hàng của cô Jaggelt vì tôi sẽ đỏ mặt mỗi lần nhìn thấy cô và nhớ đến những gì Alfons Beck từng kể.

Càng nhận ra mình vẫn cô đơn và lạc lõng giữa những người bạn mới, tôi càng khó thoát ra. Tôi thực sự không biết việc say sưa rượu chè và huênh hoang khoác loác có làm tôi vui vẻ nổi không. Hơn thế nữa, tôi vẫn không quen với việc uống say để không có chút cảm giác hổ thẹn nào sau đó. Như thể tôi bị thứ gì đó ép buộc phải làm những điều này. Tôi chỉ đơn giản làm những việc mình phải làm, vì tôi chẳng biết phải làm gì khác với bản thân. Tôi sợ hãi cảnh cô đơn trong thời gian quá dài, tôi sợ những cảm giác dịu dàng và tao nhã sẽ khiến tôi mất tinh thần, sợ những suy nghĩ về tình ái dâng trào trong tim.

Điều tôi nhớ hơn tất thảy mọi thứ là một người bạn. Có hai hay ba đứa bạn cùng lớp mà tôi quan tâm, nhưng chúng quá tốt đẹp còn những thói hư tật xấu của tôi đã bị phô bày hết. Chúng tránh mặt tôi. Tôi được số đông nhìn nhận như kẻ nổi loạn không thuốc chữa, lúc nào cũng viển vông trời bể. Các giáo viên cũng đã nghe được mấy chuyện về tôi, tôi đã có vài lần bị phạt nghiêm khắc, bị đuổi học có lẽ chỉ là chuyện một sớm một chiều. Tôi biết mình là một học sinh yếu kém, nhưng tôi biết mình không thể kéo dài tình trạng cứ phải căng thẳng quằn quại qua từng bài kiểm tra này thêm chút nào nữa.

Có hàng vạn cách Chúa có thể khiến chúng ta trở nên cô đơn và tìm về với bản ngã của chính mình, Đây là cách Ngài đang đối xử với tôi lúc đó. Giống như một cơn ác mộng, tôi thấy mình đang bò trên con đường bẩn thỉu ghê tởm, trườn qua những thứ rác tưởi và bùn đất, qua những mảnh vỡ vỏ chai bia và qua những đêm bất cần hoang phí, như một kẻ mơ mộng bị bỏ bùa, thao thức và phiêu dạt. Có những giấc mơ mà trong đó ta mắc kẹt trong những vũng lầy trên đường đến gặp nàng công chúa, kẹt trong những con ngõ sau nồng nặc các loại mùi trộn lẫn và chất thải. Đó là cách mọi việc xảy ra với tôi. Theo cách thức không mấy dễ chịu này, tôi bị kết án phải ôm lấy cô đơn, và tôi dựng lên một cánh cổng khóa kín ngăn cách bản thân và tuổi thơ với vườn Địa đàng cùng một đạo quân bảo vệ tàn nhẫn chói lòa. Đó chỉ là sự khởi đầu, sự thức tỉnh của niềm tiếc thương nhớ nhung con người trước đây của tôi.

Nhưng tôi vẫn chưa vô tâm đến mức không có chút cắn rứt và sợ hãi nào khi cha nhận được thư thông báo từ giáo viên, lần đầu tiên đến trường để gặp tôi một cách bất ngờ. Vào cuối đông, khi ông đến lần thứ hai, chẳng gì có thể lay chuyển tôi được nữa, tôi để ông rầy la và trách mắng, mặc ông nhắc nhở tôi về mẹ. Cuối cùng, ông giận dữ và nói nếu tôi không chịu thay đổi thì ông sẽ bắt tôi thôi học trong nhục nhã và ném tôi vào trại cải tạo. Sao cũng được! Khi ông đi khỏi, tôi cảm thấy có chút tiếc cho cha, ông ấy chẳng làm được gì cả, không thể tìm được cách để hiểu tôi, và đôi lúc tôi cảm thấy ông quả thật đáng bị như vậy.

Tôi chẳng quan tâm những gì đang xảy đến với mình. Trong thế giới kỳ lạ và khó ưa của tôi, việc đến những quán bar và khoác lác là cách tôi chống đối thế giới này, là cách tôi kháng nghị. Tôi phá hủy chính mình theo kế hoạch nhưng đôi khi tôi lại định nghĩa sự việc rằng nếu thế giới không cần đến những kẻ như tôi, nếu như thế giới không có một nơi tốt hơn và những việc cao cấp hơn để họ làm, thì trong trường hợp đó, những người như tôi ấy sẽ trở nên hư hỏng, và đó là mất mát của chính thế giới này.

Giáng sinh năm đó là Giáng sinh nhạt nhẽo nhất. Mẹ tôi giật mình khi nhìn thấy tôi. Tôi lớn hơn trước rất nhiều và khuôn mặt gầy gò của tôi thì xám ngoét như nghiện thuốc, mang theo dáng điệu uể oải và một đôi mắt vô hồn. Thậm chí hàng ria mép lún phún và đôi kính tôi mới đeo vẫn làm tôi trông kỳ cục. Các chị nấp một bên và rúc rích cười. Mọi thứ đều xấu xí. Cuộc nói chuyện giữa cha con tôi trong phòng làm việc của ông tràn ngập gắt gỏng chua cay, và chỉ riêng Giáng sinh đã đặc biệt vớ vẩn khi phải vờ vịt chào hỏi một đống họ hàng. Khi tôi còn là một đứa trẻ, Giáng sinh là một dịp lễ tuyệt vời. Buổi tối là lễ hội của tình yêu và lòng nhớ ơn, khi mối liên kết giữa đứa con và cha mẹ chúng được nhắc lại. Nhưng giờ đây, thời khắc này lại vô cùng ngột ngạt và ngượng nghịu. Như mọi khi, cha đọc to đoạn văn về những người chăn cừu trên đồng “theo dõi đàn con của mình”, như mọi khi, các chị lại đứng bên bàn đầy những món quà tặng. Nhưng giọng cha nghe đầy cáu kỉnh, khuôn mặt già đi vì căng thẳng, còn mẹ tôi thì buồn bã. Mọi thứ đều trật khỏi đường ray, những món quà hay những lời chúc Giáng sinh, lời đọc Thánh kinh hay cây thông lấp lánh. Mùi bánh gừng tỏa ra ngọt ngào, ứa ra những ký ức đẹp đẽ nhất. Mùi hương tỏa ra từ cây thông gợi nhớ về một thế giới đã chẳng còn tồn tại. Tôi chỉ mong buổi tối này và cả kỳ nghỉ mau chóng kết thúc mà thôi.

Tôi cứ như vậy cho đến hết mùa đông. Trước đó không lâu, tôi nhận được một lời cảnh báo nghiêm khắc từ hội đồng giáo viên và bị dọa đuổi học. Chuyện này không thể đi xa hơn nữa. Tôi lại chẳng thèm quan tâm. Trong tôi dâng lên sự căm hận đối với Max Demian, người mà đến giờ tôi vẫn chưa một lần gặp lại. Tôi gửi thư cho anh ta hai lần trong tháng đầu tiên học nội trú nhưng chẳng nhận được hồi âm, vì vậy suốt cả kỳ nghỉ, tôi chẳng thèm gọi anh ta dù chỉ một lần.

Tại công viên nơi lần đầu tôi gặp Alfons Beck vào mùa thu, một cô gái đã bước vào tâm trí tôi hồi đầu mùa xuân, khi những bụi gai bên bờ rào bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Tôi rảo bước một mình, trong đầu đầy những ý nghĩ hèn hạ và những lo lắng về sức khỏe xấu đi, và mọi việc trở nên tồi tệ hơn khi tôi lúc nào cũng túng thiếu, nợ nần bạn bè và tiếp tục bịa ra những khoản chi phí để moi tiền từ gia đình. Tôi có một đống hóa đơn đặc cách để mua xì gà và những thứ tương tự. Tôi chẳng lo lắng gì lắm. Nếu như một ngày nào đó sự tồn tại của tôi đột nhiên chấm dứt, nếu tôi tự dìm chết mình hay bị gửi đến trại giáo dưỡng, thì thêm vài tội cũng chẳng có vấn đề gì. Nhưng tôi lại bị ép buộc phải sống và đối mặt với những chuyện nhỏ nhặt đáng ghét, chúng làm tôi trở nên khốn khổ và thảm hại.

Nơi công viên trong ngày xuân ấy, một cô gái trẻ đã hấp dẫn tôi. Nàng cao và mảnh dẻ, mặc trên mình chiếc váy thanh tao cùng khuôn mặt đầy thông tuệ pha chút nam nhi. Tôi thích cô ấy từ cái nhìn đầu tiên. Cô ấy chính là mẫu người tôi thích nhất, và hình ảnh của cô dần lấp đầy tâm trí tôi. Cô ấy chắc chắn không lớn hơn tôi quá nhiều nhưng lại mang đến cảm giác chững chạc, hay nói nói rõ hơn, cô giống một phụ nữ hoàn toàn trưởng thành mang trên mình gương mặt lanh lợi và trẻ con. Và tôi thích tất cả những điều đó.

Tôi chưa bao giờ có ý định tiếp cận cô gái tôi yêu, cũng như chưa từng rơi vào tình cảnh này. Nhưng ấn tượng nàng để lại trong tôi sâu sắc hơn bất kỳ người nào trước đó, và sự si mê ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời tôi.

Bỗng nhiên một hình ảnh mới mẻ đầy kiêu kỳ và thân thương hiện lên trước mắt tôi. Và không một sự thôi thúc nào sâu sắc hay nồng nhiệt hơn từ bên trong tôi thoát ra như cảm giác khát khao tôn sùng và ngưỡng mộ. Tôi đặt tên nàng là Beatrice [31], dù tôi chưa từng đọc thơ của Dante [32], tôi biết về Beatrice qua bức tranh của một họa sĩ người Anh [33] mà tôi có giữ một bản chép. Bức tranh tả một phụ nữ trẻ từ thời Tiền Raphael [34], tay chân nàng dài và mảnh mai, khuôn mặt dài và hai bàn tay cùng dáng điệu thoát tục. Cô gái trẻ trong lòng tôi không giống người trong tranh, thậm chí cô ấy còn thể hiện ra những cử chỉ yếu ớt và trẻ con mà tôi luôn yêu mến, và có gì đó trên gương mặt thanh tao và dạt dào tình cảm này.

Mặc dù tôi chưa nói lời nào với Beatrice, cô ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi vào thời điểm đó rồi. Cô dựng lên ảo ảnh của chính mình trong tôi, cho tôi quyền được tiếp cận ngôi đền thánh, biến tôi thành kẻ sùng kính trong đền.

Ngày hôm sau và cả hôm sau nữa, tôi tránh mặt khỏi mọi quán bar và những cuộc thác loạn về đêm. Tôi lại có thể trở về gặm nhấm nỗi cô đơn của chính mình, thưởng thức một cuốn sách hay, hay dạo bước trên con đường dài.

Sự chuyển biến đột ngột của tôi kéo theo một loạt những lời chế nhạo phía sau. Nhưng giờ tôi đã có một ai đó để yêu và tôn kính, tìm được lý tưởng trở lại, cuộc sống lại ngập đầy những gợi ý về bí ẩn và cảm xúc thuở ban đầu, khiến tôi miễn dịch với mọi lời chế nhạo. Tôi lại trở về là chính mình, dù cho chỉ như một tên nô lệ hay kẻ hầu cận cho một bóng hình dấu yêu.

(còn tiếp)


*Chú thích

[29] Trường Thánh —— : Trong bản gốc phần tên trường bị để trống, giữ y nguyên là St. ——.

[30] Heinrich Heine: Christian Johann Heinrich Heine (tên khi sinh là Harry Chaim Heine; 1797-1856) là một trong những nhà thơ nổi tiếng ở Đức. Heine được biết đến với những lời thơ, phần lớn trong số đó (đặc biệt là những tác phẩm thời kỳ đầu của ông) đã được chuyển thành lời các bài hát, phần lớn được thực hiện bởi Robert Schumann. Những tác giả khác cũng đã dùng thơ của ông bao gồm Richard Wagner,Franz Schubert, Felix Mendelssohn, Fanny Mendelssohn, Hugo Wolf và Johannes Brahms; vào thế kỷ 20 thì là Hans Werner Henze vàLord Berners.

[31] Beatrice: Beatrice Portinari (tên thật là Bice di Folco Portinari, 1266 – 1290) là một phụ nữ người Firenze, Ý, là người tình đơn phương và là Nàng Thơ của nhà thơ vĩ đại Dante Alighieri trong hai kiệt tác Cuộc đời mớiThần khúc. Dante gặp Beatrice năm 1274. Khi đó Dante lên 9 tuổi còn Beatrice lên 8. Dante đã ngay lập tức yêu nàng từ cái nhìn đầu tiên. Sau đó Beatrice đã kết hôn với Simone dei Bardi và mất năm 1290 – năm nàng mới 24 tuổi. Tình yêu đối với Beatrice đã theo Dante cho đến hết cuộc đời, cả khi ông kết hôn với Gemma Donati và có con thì tình yêu này vẫn không hề thuyên giảm. Tình yêu này là nguồn cảm hứng bất tận cho Dante viết hai kiệt tác Cuộc đời mới và Thần khúc.
Dante Gabriel Rossetti - Beata Beatrix, 1864-1870.jpg

[32] Dante: Durante degli Alighieri hay Dante Alighieri hay, đơn giản hơn, Dante (1265-1321) là một thiên tài, một nhà thơ lớn, nhà thần học người Ý, tác giả của hai kiệt tác La Divina Commedia (Thần khúc) và La Vita Nuova (Cuộc đời mới). Ông là một nhà mơ mộng lớn, ảnh hưởng sâu sắc bởi cả hai truyền thống Kitô giáo và cả các tác phẩm kinh điển Latin. Nhưng ông cũng là một người tư sản Florence điển hình, tham gia sâu sắc vào chính trị địa phương và đối nghịch với Đức Thánh Cha. Ông đã dành phần lớn cuộc sống của mình như là một lưu vong chính trị và là một nhà phê bình của nhiều điều mà ông nhìn thấy xung quanh mình.

[33] Một họa sĩ người Anh: Henry Holiday (17/6/ 1839 – 15/4/1927) là một họa sĩ người Anh theo trường phải lịch sử nghệ thuật và phong cảnh, thiết kế kính màu, minh họa và ssieeu khắc. Ông được coi là thành viên của trường nghệ thuật tiền Raphael.

[34] Tiền Raphael: Là một trào lưu nghệ thuật xuất hiện ở Anh khoảng giữa thế kỷ 19. Trào lưu này xuất phát từ Nhóm Tiền Raphael, được thành lập năm 1848 bởi John Everett Millais, Dante Gabriel Rossetti và William Holman Hunt. Họ muốn tìm lại phong cách của các họa sĩ trước Raffaelllo, tên theo tiếng Anh là Raphael. Chống lại Chủ nghĩa kinh viện Victoria, họ muốn tìm sự trong sáng và nguyên thủy của nghệ thuật Ý, của những nghệ sĩ trước Raffaelllo và dựa theo phong cách của họ. Các họa sĩ Tiền Raphael thiên về Chủ nghĩa hiện thực, ý nghĩa của các chi tiết và màu sắc rực rỡ. Chủ đề ưu thích của họ là Kinh thánh, Trung Cổ, văn học và thi ca (Shakespeare, Keats, Browning…). Đôi khi họ ký dưới các bức tranh của mình “PRB” có nghĩa là Pre-Raphaelite Brotherhood, khiêu khích sự tức giận của nước Anh bảo thủ thường tưởng tượng sau ba chữ này có một ý nghĩa báng bổ hay bí ẩn.

Các nguồn tài liệu chú thích:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Heinrich_Heine
http://www.cheshirebrickandslate.co.uk/?page=lighting&sub=Meriden-Lantern-Range
https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_Holiday
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dante_Alighieri
https://vi.wikipedia.org/wiki/Beatrice_Portinari
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_Raphael


Hết phần I – Chương IV.

BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT THUỘC SỞ HỮU CỦA THE LITTLE GROUND-FLOOR.
XIN KHÔNG REPOST TẠI NƠI KHÁC HOẶC SỬ DỤNG VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI.

Advertisements

One thought on “[Trans] Demian – Chương IV (I)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s